Bảng điều khiển của điều hành viên ]

Việt Nam Quốc dân Đảng

Việt Nam Quốc dân Đảng

Gửi bàigửi bởi kimau vào ngày Thứ 4 Tháng 8 28, 2013 9:40 pm

Việt Nam Quốc dân Đảng


Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Bước tới: menu, tìm kiếm


Xin xem các mục từ khác có tên tương tự ở Quốc Dân Đảng (định hướng).



Việt Nam Quốc dân Đảng
(越南國民黨)



Flag of VNQDD.svg
Đảng kỳ.


Lãnh tụ Nguyễn Thái Học
Chủ tịch Lê Thành Nhân
(2006-Present)

Thành lập 25 tháng 12, 1927
Trụ sở Hà Nội (1927 - 1954)
Sài Gòn (1954 - 1975)
California (1975 đến nay)
Báo chính thức Tiếng dân
Tổ chức thanh niên Đoàn thanh niên Ký Con[1]
Đoàn thanh sinh Phó Đức Chính[2]

Hệ tư tưởng/
vị thế chính trị Chủ nghĩa xã hội dân chủ, chủ nghĩa Tam dân

Khẩu hiệu Dân tộc độc lập,
Dân quyền tự do,
Dân sinh hạnh phúc.
Thuộc quốc gia Liên bang Đông Dương / Việt Nam Cộng hòa
Hoa Kỳ
Thuộc tổ chức quốc tế Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Nhóm Nghị viện châu Âu Pháp
Màu sắc chính thức Đỏ, lam, trắng

Trang web VietQuoc.org


Tôn chỉ Dân tộc độc lập
Dân quyền tự do
Dân sinh hạnh phúc

Nhiệm vụ Cách mạng dân tộc, cách mạng xã hội, xây dựng nền dân chủ trực tiếp
Ý nghĩa đảng kỳ Màu đỏ tượng trưng cho sức chiến đấu, lòng dũng cảm hy sinh trong công cuộc giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc.
Ngôi sao trắng, vì tinh tú soi đường, là biểu tượng của Lý Tưởng Cách Mạng của Đảng, tượng trưng cho sự lãnh đạo trong sáng và đạo đức của Đảng.
Màu xanh là màu hy vọng, tượng trưng cho hòa bình, tự do, bình đẳng, an lạc và thịnh vượng trường tồn của dân tộc.

Lời thề đảng viên
Trước giang sơn Tổ quốc, trước các anh em đồng chí, tôi tên là...tuổi, nguyên quán... Bí danh...hân hạnh được gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng. Tôi xin thề :
1.Tuyệt đối trung thành với Đảng
2.Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của Đảng
3.Tuyệt đối giữ bí mật công việc của Đảng
4.Tuyệt đối hy sinh cho Đảng

Nếu trái lời thề, tôi xin chịu tội tử hình.



Việt Nam Quốc dân Đảng - có khi được gọi tắt là Việt Quốc - là một chính đảng Việt Nam được thành lập năm 1927 tại Hà Nội. Sau năm 1975, do biến động chính trị, tổ chức này hầu như chỉ hoạt động bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.



Mục lục
[ẩn] 1 Quá trình thành lập
2 Tổ chức
3 Lịch sử 3.1 Giai đoạn 1927-1930
3.2 Giai đoạn 1931-1946
3.3 Giai đoạn 1947-1954
3.4 Giai đoạn 1955-1963
3.5 Giai đoạn 1963-1975
3.6 Giai đoạn sau 1975

4 Nhân vật liên quan
5 Xem thêm
6 Tham khảo
Đảng ca : Cờ sao trắng[3].

Quá trình thành lập[sửa]

Vào thập niên 1920, dưới sự thống trị và đàn áp của thực dân Pháp với phong trào chống Pháp, Nguyễn Thái Học, một sinh viên trường Cao đẳng Thương mại Hà Nội, đã cùng một số người Việt yêu nước khác như Nhượng Tống, Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm, Hồ Văn Mịch, Phó Đức Chính, Nguyễn Ngọc Sơn, Lê Văn Phúc... bí mật thành lập một tổ chức đấu tranh cách mạng nhằm đánh đuổi thực dân giành độc lập và tự do cho dân tộc.

Hạt nhân đầu tiên là Nam Đồng Thư xã, một nhà xuất bản tiến bộ do Phạm Tuấn Tài, Nhượng Tống, và Phạm Tuấn Lâm thành lập vào cuối năm 1926. Thư Xã ở số 6 đường 96, bờ hồ Trúc Bạch, gần đối diện với chùa Châu Long. Do ảnh hưởng của phong trào dân tộc dân chủ ở Trung Quốc, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn (một sáng lập viên của Trung Hoa Quốc Dân Đảng), nên vào đêm 24 rạng ngày 25 tháng 12 năm 1927 (có tài liệu nói là 25 tháng 9) những thành viên của Thư xã cùng một số nhà ái quốc, đa số từ Thanh Hóa trở ra, đã tổ chức một đại hội bí mật tại làng Thể Giao, Hà Nội thành lập một đảng cách mạng đặt tên là Việt Nam Quốc dân Đảng. Mục tiêu của Đảng là:
Làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Độc lập Cộng hòa. Đồng thời giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc tranh đấu giành độc lập của họ, đặc biệt là các lân quốc: Ai Lao, Cao Miên.[4]
Tổ chức[sửa]

Đại hội bầu ra ban lãnh đạo gồm:
Nguyễn Thái Học: Chủ tịch Tổng bộ
Nguyễn Thế Nghiệp: Phó Chủ tịch
Phó Đức Chính: Trưởng Ban Tổ chức
Nhượng Tống: Trưởng Ban Tuyên truyền
Nguyễn Ngọc Sơn: Trưởng Ban Ngoại giao
Đặng Đình Điển: Trưởng Ban Tài chánh
Nguyễn Hữu Đạt: Trưởng Ban Giám sát
Tưởng Dân Bảo: Trưởng Ban Trinh sát
Hoàng Văn Tùng: Trưởng Ban Ám sát

Riêng Ban Binh vụ khuyết.

Đảng được tổ chức với ba đảng viên trở lên làm một "tổ". Mười chín đảng viên trở lên thì làm một "chi bộ". Cao hơn chi bộ là "xã bộ", "huyện bộ" rồi cuối cùng là "tổng bộ" ở cấp quốc gia. Mỗi chi bộ có ít nhất bốn tiểu ban: tuyên truyền, tổ chức, tài chánh và tình báo.[5]

Sau khi thành lập, Việt Nam Quốc dân Đảng đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển cơ sở trong các tầng lớp dân chúng trên cả nước, nhất là ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Đảng đã liên lạc và sáp nhập thêm tổ chức Việt Nam Dân Quốc ở Bắc Giang do Nguyễn Khắc Nhu đứng đầu. Gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng còn có thêm các nhóm nhân sĩ và trí thức yêu nước ở Bắc Ninh do Nguyễn Thế Nghiệp tổ chức, nhóm khác ở Thanh Hoá do Hoàng Văn Đào đứng đầu, một nhóm ở Thái Bình do Hà Đình Điển tổ chức, và một nhóm ở Sài Gòn do Trần Huy Liệu lãnh đạo. Cơ sở tổ chức của Việt Nam Quốc dân Đảng phát triển tương đối nhanh. Chỉ trong hai năm, năm 1928 và đầu năm 1929, họ đã bí mật kết nạp hàng nghìn đảng viên bao gồm các thành phần trí thức, nông dân, địa chủ, thương gia, công chức, sinh viên, học sinh, công nhân, và binh lính người Việt yêu nước trong quân đội Pháp. Việt Nam Quốc dân Đảng cũng cử người liên lạc với Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội và Tân Việt Cách mạng Đảng để bàn thảo việc thống nhất về tổ chức và phối hợp hoạt động trong công cuộc giải phóng dân tộc, nhưng việc bất thành do những bất đồng trong quan điểm thực hiện. Mặc dù hoạt động bí mật, nhưng việc phát triển nhanh chóng trong một thời gian ngắn đã khiến Việt Nam Quốc dân Đảng không thể tránh khỏi sơ xuất và sự theo dõi của chính quyền thuộc địa, vì vậy Pháp đã thành công cài người của họ vào tổ chức này. Mãi đến ngày 2 tháng 7 năm 1929, cả nước mới biết đến Việt Nam Quốc dân Đảng sau khi báo chí loan tin chính quyền thuộc địa sắp xét xử một số đảng viên của họ.

Lịch sử[sửa]

Giai đoạn 1927-1930[sửa]

Bài chi tiết: Ám sát Bazin
Ám sát Bazin: Bazin là một tay thực dân chuyên dụ dỗ, tuyển mộ dân nghèo tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ đi làm phu cho các đồn điền cao su tại Nam Kỳ, Miên, Lào, nơi những người phu này bị đối xử như nô lệ. Mặc dù không được Nguyễn Thái Học và Tổng Bộ chấp thuận, ngày 9 tháng 2 năm 1929, ba đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng là Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Văn Lân và Nguyễn Đức Lung đã ám sát Bazin tại Chợ Hôm, Hà Nội. Nhân sự kiện này, Pháp khởi sự đàn áp khắp nơi nhằm tiêu diệt tiềm lực đang lớn mạnh của Việt Nam Quốc dân Đảng. Từ đó, lực lượng của Đảng này bị tổn thất nặng nề và hoàn toàn rơi vào thế bị động. Các lãnh tụ buộc phải tiến hành cuộc khởi nghĩa 8 tháng sau đó để tránh cho các cơ sở đang gặp nguy cơ bị tiêu diệt hoặc tan rã.
Khởi nghĩa Yên Bái: Trước tình hình trong hàng ngũ đảng có phản bội, công việc chuẩn bị khởi nghĩa bị bại lộ, thực dân Pháp càn quét các khắp nơi, nhiều đảng viên bị bắt. Do vậy, mặc dù không tin chắc vào thắng lợi, nhưng để tránh bị tiêu diệt, vào ngày 10 tháng 2 năm 1930 Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức cuộc tổng khởi nghĩa tại nhiều nơi ở miền Bắc Việt Nam như Yên Bái, Lâm Thao, Hưng Hóa, Hà Nội, Đáp Cầu, Phả Lại, Kiến An, Phụ Dực, Vĩnh Bảo, Thái Bình v.v. Tuy nhiên, do tin tức bị lộ nên cuộc tổng khởi nghĩa chỉ xảy ở Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao, Phụ Dực, Vĩnh Bảo. Mặt khác, vì do thiếu vũ khí và phương tiện liên lạc yếu kém, nên lực lượng khởi nghĩa không cố thủ được lâu dài ở các nơi họ đã đánh chiếm.

Ngày 20 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại làng Cổ Vịt, gần đồn Chi Ngại, tỉnh Hải Dương. Ông và 12 đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng bị Pháp áp giải từ ngục thất Hỏa Lò ở Hà Nội lên Yên Bái bằng xe lửa chiều ngày 16 tháng 6 năm 1930 để chặt đầu. Lúc 5 giờ 35 sáng ngày 17 tháng 6 năm 1930 tại pháp trường Yên Bái, Nguyễn Thái Học cùng 12 liệt sĩ khác là:





Hiệu kỳ nghĩa quân Yên Bái[6].Phó Đức Chính
Bùi Tư Toàn
Bùi Văn Chuẩn
Nguyễn An
Hà Văn Lạo
Đào Văn Nhít
Ngô Văn Du
Nguyễn Đức Thịnh
Nguyễn Văn Tiềm
Đỗ Văn Sứ
Bùi Văn Cửu
Nguyễn Như Liên
...


đã bình thản bước lên đoạn đầu đài. Trước khi bị chặt đầu, mọi người đã hô to "Việt Nam vạn tuế". Hiện nay khu di tích mộ Nguyễn Thái Học và các đồng chí nằm ngay tại thị xã Yên Bái [7], được Nhà nước Việt Nam xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Nguyễn Thị Giang tức Cô Giang, đồng chí và là hôn thê của Nguyễn Thái Học, cũng tuẫn tiết tại làng Thổ Tang sau đó một ngày. Sau cuộc khởi nghĩa, Pháp tiếp tục truy lùng, bắt bớ, xử tử, bỏ tù khổ sai và lưu đầy biệt xứ nhiều đảng viên khác. Một số đảng viên lánh sang Trung Quốc tiếp tục hoạt động và gây dựng cơ sở. Riêng Nhượng Tống thì không tham gia cuộc khởi nghĩa vì ông bị bắt và bị đầy ra Côn Đảo từ năm 1929, mãi đến năm 1936 mới được thả về.

Giai đoạn 1931-1946[sửa]

Bài chi tiết: Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam

Sau khi Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, nhiều đảng viên trốn thoát đã cố gắng xây dựng lại lực lượng. Tuy nhiên, lực lượng của Việt Nam Quốc dân Đảng quốc nội bị phân hóa thành rất nhiều nhóm, trong đó có 2 nhóm lớn nhất là:
Nhóm Hà Nội (Tân Việt Nam Quốc dân Đảng) với lãnh tụ Nguyễn Thế Nghiệp, Ngô Thúc Địch, Nhượng Tống
Nhóm Quảng Nam với lãnh tụ Phan Khôi, Phan Kích Nam.

Một số khác như Trần Huy Liệu, Nguyễn Bình ly khai, hợp tác với Việt Minh hoặc xây dựng lực lượng riêng.

Số đảng viên ở Trung Quốc cũng bị phân hóa thành nhiều nhóm, trong đó 2 nhóm lớn nhất là:
Nhóm Quảng Châu với lãnh tụ Lệnh Trạch Dân và Vũ Hải Thu, về sau thành lập Việt Nam Cách mệnh Đảng (tức Đảng Cách mệnh An Nam), sau đó đổi tên là Việt Nam Quốc dân Cách mệnh Đảng (tức Đảng Quốc gia Cách mệnh An Nam).
Nhóm Vân Nam với lãnh tụ Lê Phú Hiệp và Nguyễn Thế Nghiệp. Nhóm chủ trương bạo lực vũ trang để gây thanh thế, thành lập "Trung - Việt Cách mệnh Liên quân" (tức "Liên minh cách mệnh Trung Hoa – An Nam") làm lực lượng quân sự.

Được sự hỗ trợ và khuyến khích của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, từ 15 đến 24 tháng 7 năm 1932, tại Nam Kinh, các nhóm hải ngoại đã họp hội nghị hợp nhất, thành lập một tổ chức chung mang tên Việt Nam Quốc dân Đảng Hải ngoại Biện sự xứ (Bureau d’Outre – Mer du Việt Nam Quốc dân Đảng), còn gọi là Hải ngoại bộ, với thành phần lãnh đạo ban đầu gồm: Vy Đặng Tường (nhóm Quảng Châu) làm Chủ nhiệm, Trưởng ban Tổ chức; Đào Chủ Khải (nhóm Vân Nam) làm Bí thư, Trưởng ban tuyên truyền giáo dục; Nghiêm Xuân Chí (Quảng Châu) làm Thủ quỹ, Trưởng ban kinh tài và trinh thám; Vũ Tiến Lữ (Vân Nam), Trần Ngọc Tuân (Vân Nam), Vũ Văn Giản tức Vũ Hồng Khanh (Vân Nam) và Vũ Bá Biền (nhóm Đông Hưng) làm ủy viên.[8]

Bấy giờ, tinh thần của cuộc khởi nghĩa Yên Bái cũng đã làm dấy lên mạnh mẽ phong trào đấu tranh theo chủ nghĩa Quốc dân. Hàng loạt các đảng phái Quốc dân ra đời, mạnh nhất là Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội do Nguyễn Hải Thần sáng lập năm 1936, Đại Việt Quốc dân đảng do Trương Tử Anh (1914-1946) sáng lập 1938, Đại Việt Dân chính đảng do Nguyễn Tường Tam sáng lập năm 1938. Một lần nữa, chính phủ Trung Hoa Quốc Dân Đảng đã khuyến cáo và hỗ trợ cho các đảng phái Quốc dân liên minh với nhau để tạo lợi thế chính trị sau này.

Tháng 5 năm 1945, tại Trùng Khánh (Trung Quốc), Việt Nam Quốc dân Đảng liên minh với Đại Việt Quốc dân đảng (lãnh tụ Trương Tử Anh) và Đại Việt Dân Chính đảng (lãnh tụ Nguyễn Tường Tam) thành một tổ chức mới, ở trong nước thì lấy tên là Đại Việt Quốc dân đảng, còn ở Trung Quốc thì lấy tên là Quốc dân Đảng Việt Nam, tránh dùng danh xưng Đại Việt vì lý do tế nhị trong giao tế với bạn đồng minh Trung Hoa. Sau đó các đại biểu của 3 đảng kết hợp trong tổ chức mới lên Trùng Khánh gặp Bí thư Trưởng Trung Quốc Quốc Dân Đảng Ngô Thiết Thành, yết kiến Ủy viên trưởng Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch, và dự lễ liên hoan do Quốc dân Đảng Trung Quốc tổ chức chào mừng Quốc dân Đảng Việt Nam.

Năm 1945, lực lượng quân sự Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) dưới sự hỗ trợ của quân đội Trung Hoa trở về Việt Nam. Việt Quốc đã đánh chiếm Lào Cai và cướp chính quyền ở Sa Pa.

Theo tài liệu của tổ chức Việt quốc, trong giai đoạn 1945 -1946: Tại miền Bắc và Trung Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng thành lập các chiến khu:
Ðệ Nhất Chiến Khu gồm các tỉnh Hải Dương, Kiến An, Hải Phòng, Quảng Yên, Hòn Gai và Móng Cáy.
Ðệ Nhị Chiến Khu gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, và bộ Tư Lệnh tại Ðáp Cầu.
Ðệ Tam Chiến Khu là "địa bàn chủ lực" của Việt Nam Quốc dân Đảng, bao gồm một vùng rộng lớn từ Trung du đến Thượng du Bắc Việt và chia thành nhiều chiến khu quan trọng: chiến khu Hà Giang, Vĩnh Yên, Yên Bái, Phú Thọ, Việt Trì, Lào Cai.
Ðệ Tứ Chiến Khu gồm các tỉnh Hưng Yên và Thái Bình.
Ðệ Ngũ Chiến Khu gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Ðịnh và Ninh Bình. Chiến Khu này, trong đó có Phân Khu Phát Diệm thuộc Giáo Khu Phát Diệm dưới sự lãnh đạo của Bạch Vân, phụ tá bởi Phạm Quốc Trỵ, hoạt động đến cuối năm 1949.
Ðệ Lục Chiến Khu gồm tỉnh Thanh Hóa.
Ðệ Thất Chiến Khu gồm các tỉnh miền Trung: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Ðà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Phan Rang, và Bình Thuận.

Tại mỗi chiến khu, Quốc Dân Quân được tổ chức thành đội ngũ "lên tới cấp sư đoàn vào năm 46". Quốc Dân Quân thời đó cũng kiểm soát các tỉnh dọc biên giới như Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Móng Cáy, "với sự hậu thuẫn của các sắc dân thiểu số địa phương như Nùng, Tầy, Thái",...

Trong Nam, Nguyễn Hòa Hiệp thành lập Ðệ Tam Sư đoàn Dân quân, qui tụ Việt Nam Quốc dân Đảng và một số đảng phái không theo chủ nghĩa cộng sản như Việt Nam Quốc Gia Ðảng, Huỳnh Long Ðảng, Việt Nam Ái Quốc Ðoàn, và một nhóm Phật giáo. Nguyễn Hòa Hiệp, cựu sĩ quan cấp tướng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc, giữ chức Sư Ðoàn Trưởng, "mở các mặt trận chống Pháp" tại miền Ðông cho đến Tây Ninh và Gia Ðịnh.

Thời gian này Việt quốc bị kẹp giữa Việt Minh và thực dân Pháp. Việt Quốc vừa chống thực dân Pháp vừa đối đầu với Việt Minh. Tại Hà Nội, Việt Nam Quốc dân Đảng ra tuần báo Chính nghĩa và nhật báo Việt Nam.

Ngày 19 tháng 11 năm 1945, tướng Tiêu Văn đứng ra tổ chức một cuộc hội nghị hòa giải có Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội và Việt Minh tham gia. Sau khi bàn bạc, cả ba phái đều thỏa thuận thành lập một Chính phủ liên hiệp, quân đội các bên không dùng vũ lực giải quyết những vấn đề bất đồng, đồng thời chấm dứt việc công kích nhau trên báo chí. Ngày 24 tháng 11, đại biểu ba đảng trên lại gặp nhau và ký vào bản "Đoàn kết tinh thành". Kết quả là Việt Quốc có 50 ghế đại biểu Quốc hội không qua bầu cử và Nguyễn Tường Long, người của Việt Quốc được cử làm Thứ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế trong Chính phủ liên hiệp lâm thời.

Ngày 15 tháng 12 năm 1945, ở phố Jambert, khu Ngũ Xã (Hà Nội), thực hiện nghị quyết Trùng Khánh, Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam gồm 3 đảng ra công khai, với tên gọi chung là Việt Nam Quốc dân Đảng, với Trương Tử Anh (Đại Việt Quốc dân đảng), làm Chủ tịch, Vũ Hồng Khanh (Việt Nam Quốc dân Đảng) làm Bí thư trưởng và Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân chính Đảng) làm Tổng Thư ký. Phần chỉ huy tối cao bí mật có: Trương Tử Anh, Nguyễn Tiến Hỷ, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ và Nguyễn Tường Tam.

Ngày 24 tháng 2 năm 1946, tại Đại sứ quán Trung Hoa, dưới sự chủ trì của tướng Tiêu Văn, hội nghị giữa các đảng phái Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách, Đảng Dân chủ đã thống nhất về việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Cố vấn đoàn và Kháng chiến Ủy viên hội. Việt Cách và Việt Quốc nắm 4 bộ (Ngoại giao, Kinh tế, Xã hội và Canh nông).

Ngày 2 tháng 3 năm 1946 Quốc hội họp, thảo luận và đã thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến gồm 12 thành viên, trong đó Hồ Chí Minh (lãnh đạo Việt Minh) làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) làm Phó Chủ tịch; Nguyễn Tường Tam (Việt Quốc) giữ Bộ trưởng bộ Ngoại Giao; Vũ Hồng Khanh là Phó Chủ tịch Kháng chiến uỷ viên hội và Chu Bá Phượng (Việt Quốc) đảm trách bộ Kinh tế.

Tuy nhiên, sự liên hiệp này rất lỏng lẻo. Tháng 7 năm 1946, nhân vụ án phố Ôn Như Hầu (Hà Nội), Việt Minh tấn công lực lượng của Việt Nam Quốc dân Đảng, các lãnh tụ Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh phải trốn sang Trung Hoa. Trương Tử Anh mất tích (có giả thuyết cho rằng ông bị bắt cóc và thủ tiêu). Khi Pháp tái chiếm Đông Dương thì lực lượng Quốc dân Đảng đã bị tan rã. Riêng Bồ Xuân Luật thì theo Việt Minh.

Giai đoạn 1947-1954[sửa]

Sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương và Trương Tử Anh mất tích, sự thống nhất của Mặt trận Quốc dân Đảng bị tan vỡ, các đảng viên Đại Việt Quốc dân đảng trở lại hoạt động dưới danh nghĩa Đại Việt. Các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng cố gắng tái tổ chức lại lực lượng tại Trung Quốc và một số vùng do Pháp kiểm soát. Ngày 17 tháng 2 năm 1947, Việt Nam Quốc dân Đảng tham gia Mặt trận Quốc gia Thống nhất Toàn quốc, chống chính quyền Việt Minh, ủng hộ giải pháp Bảo Đại, thành lập chính quyền Quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, tháng 8 năm 1948, Hoàng Đạo qua đời tại Trung Quốc. Năm 1949 Nhượng Tống bị du kích Việt Minh ám sát vì cho là phản quốc tại Hà Nội. Từ đó, Việt Nam Quốc dân Đảng lại phân hóa thành nhiều nhóm khác nhau, chủ yếu là 3 nhóm là nhóm Vũ Hồng Khanh, nhóm Nguyễn Tường Tam, nhóm Nguyễn Hòa Hiệp. Tuy nhiên, hoạt động cũng không còn thực lực như thời kỳ đầu nữa. Từ năm 1951, Nguyễn Tường Tam tuyên bố không tham gia hoạt động chính trị nữa và không thuộc bất kỳ đảng phái nào.

Cũng từ năm 49, Ðảng phân hóa thành 2 khuynh hướng: khuynh hướng ủng hộ giải pháp Bảo Ðại, hợp tác với Pháp chống CS, đáng kể là các GS Nghiêm Xuân Thiện (tổng trấn BV 1949), BS Trần Trung Dung (bộ trưởng Quốc Phòng Ðệ I Cộng Hòa, Nghị Sĩ Ðệ II Cộng Hòa), Cụ Vũ Hồng Khanh, Cụ Ngô Thúc Ðịnh, BS Trần Văn Tuyên. Còn lại đại đa số chống Bảo Ðại vì quyết giữ lập trường chống Pháp, đáng kể là các Cụ Xuân Tùng, Hoàng Văn Ðào (tác giả quyển sử Việt Nam Quốc Dân Ðảng), Nguyễn Văn Chấn, Lê Ngọc Chấn (bộ trưởng Quốc Phòng Ðệ I Cộng Hòa).

Giai đoạn 1955-1963[sửa]

Sau 1954, theo Hiệp định Genève, các lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng đều di chuyển xuống miền Nam. Năm 1955, nổ ra cuộc tranh giành quyền lực giữa chính quyền Ngô Đình Diệm với các lực lượng đối lập, lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng bị chính quyền đàn áp, bắt giam nhiều lãnh tụ. Một số có lực lượng quân sự như nhóm Nguyễn Hòa Hiệp do liên hiệp với Hòa Hảo nên bị quân Ngô Đình Diệm tiêu diệt. Vũ Hồng Khanh bị bắt giam năm 1958 mãi đến năm 1963 khi Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam bị lật đổ ông mới được thả.[9] Nguyễn Tường Tam cũng chuyển hướng đối lập với chính quyền, cùng đường lối với đảng Đại Việt.

Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông chỉ huy cuộc đảo chính tại Sài Gòn. Lực lượng Việt Quốc và Đại Việt đối lập tham gia ủng hộ chính trị cho cuộc đảo chính. Do cuộc đảo chính thất bại, nhiều đảng viên bị bắt và cầm tù, chờ xét xử.

Ngày 26 tháng 2 năm 1962, 2 phi công Quân lực Việt Nam Cộng hòa là đảng viên Việt Quốc ném bom dinh Độc Lập mưu sát Ngô Đình Diệm bất thành. Phi công Nguyễn Văn Cử đào thoát sang Campuchia xin tỵ nạn chính trị. Phi công Phạm Phú Quốc bị bắn hạ và bị bắt. Vì sự biến này, chính quyền đã mở cuộc truy quét và bắt giữ nhiều đảng viên trong đó có Nguyễn Tường Tam.

Ngày 8 tháng 7 năm 1963, tòa án quân sự đặc biệt được thành lập để xét xử những người liên can tới vụ đảo chính 1960 và vụ binh biến năm 1962. Nhiều đảng viên bị xử với nhiều mức án khác nhau. Riêng Nguyễn Tường Tam tự sát, để lại di ngôn nổi tiếng: "Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả".

Giai đoạn 1963-1975[sửa]

Sau đảo chính 1963, cả Việt Quốc và Đại Việt bắt đầu phục hồi lại. Đặc biệt, trong giai đoạn 1964-1965, liên minh 2 đảng tham gia trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa với Phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn và Thủ tướng Phan Huy Quát. Vũ Hồng Khanh sau khi được thả cố khôi phục lại địa vị lãnh đạo nhưng Đảng bị phân hóa, chia thành ba nhóm chính:
Kỳ bộ Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Đình Lương lãnh đạo, chủ lực ở ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Quảng Tín với khoảng 50.000 đảng viên;[10]
Trung ương Việt Nam Quốc dân Đảng do Vũ Hồng Khanh và Phạm Thái lãnh đạo, chủ yếu ở Sài Gòn;
Xứ bộ Miền Nam Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Hòa Hiệp và Trần Văn Tuyên lãnh đạo, chủ lực ở Tiền Giang và Hậu Giang[11] với khoảng 95.000 đảng viên.[10]

Tuy nhiên, khi chính quyền thuộc về tay nhóm các tướng trẻ, cả Đại Việt lẫn Việt Quốc đều bị hạn chế lực lượng, không thể phát triển mạnh mẽ và chỉ còn là một đảng đối lập thiểu số trong Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa. Điển hình là trong cuộc bầu cử Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam năm 1967, Việt Nam Quốc dân Đảng chỉ chiếm được một ghế ở Thượng viện. Ở Hạ viện, Đảng vận động để đưa được chín đảng viên vào trên tổng số 127 dân biểu.[12]

Giai đoạn sau 1975[sửa]

Sau năm 1975, nhiều đảng viên đào thoát và tị nạn tại nước ngoài. Tổ chức trong nước hoàn toàn tan rã. Từ năm 1980, các đảng viên cũ và các đảng viên mới gia nhập ở nước ngoài đã tìm cách tổ chức lại đảng ở hải ngoại. Ngày 25 tháng 11 năm 1994, các đảng viên đã tổ chức việc thống nhất các hệ phái, tổ chức và hành động để thực hiện cương lĩnh của đảng kể từ lúc mới thành lập năm 1927. Tuy nhiên, chủ yếu hoạt động vẫn chỉ giới hạn ở hình thức vận động chính trị ở nước ngoài.

Nhân vật liên quan[sửa]
Phan Khôi-chủ nhiệm chi bộ Quảng Ngãi[13]

Xem thêm[sửa]
Danh sách tổ chức chính trị Liên bang Đông Dương
Đại Việt Quốc dân Đảng

Tham khảo[sửa]

1.^ Đoàn thanh niên Ký Con
2.^ Đoàn thanh sinh Phó Đức Chính
3.^ Bài hát Cờ sao trắng
4.^ Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002. tr 1780.
5.^ Lansdale, Edward. Nationalist Politics in Viet-Nam. Saigon: US Embassy Viet-Nam, 1968. tr11
6.^ 10 tháng 2 năm 2013 : 83 năm cuộc Khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ
7.^ Lăng mộ Nguyễn Thái Học và các anh hùng Việt Nam Quốc dân Đảng
8.^ Hội nghị hợp nhất các tổ chức mang tên Việt Nam Quốc dân Đảng tại Trung Quốc, thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng Hải ngoại Biện sự xứ
9.^ Lansdale, Edward. tr 16
10.^ a b Smith Harvey et al. tr 253
11.^ Lansdale, Edward. tr 17-18
12.^ Lansdale, Edward. tr 20
13.^ Phan Khôi phần 2 theo RFI

Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Việt Nam Quốc dân Đảng
VietQuoc.org
VietQuoc.com
Nguyễn Thái Học Foundation
Sự ra đời của Việt Nam Quốc dân Đảng và những giá trị lịch sử
Liệt sĩ Nguyễn Thái Học, Chủ tịch Việt Nam Quốc dân Đảng 1930
Nguyễn Thái Học - Việt Nam Quốc dân Đảng
Tiểu sử đảng trưởng Việt Nam Quốc dân Đảng Nguyễn Thái Học
Nguyễn Thái Học Foundation
Kế Hoạch Dân Chủ Hóa Đông Dương - Nguyễn Đại Việt
Lansdale, Edward. Nationalist Politics in Viet-Nam. Saigon: US Embassy Viet-Nam, 1968.



[hiện]


s

Phong trào độc lập Việt Nam







Phan Bội Châu
Nguyễn Thái Học

















































[ẩn]


s

Danh sách các liên minh và đảng phái chính trị Việt Nam



Trước 1945

Việt Nam Quang phục Hội · Đảng Lập hiến Đông Dương · Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên · Tân Việt Cách mạng Đảng · Đảng Việt Nam Độc lập · Việt Nam Quốc dân Đảng · Đông Dương Cộng sản Đảng · An Nam Cộng sản Đảng · Đông Dương Cộng sản Liên đoàn · Đảng Cộng sản Việt Nam · Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng · Đại Việt Dân chính Đảng · Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội · Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội · Đại Việt Quốc dân Đảng · Đảng Dân chủ Đông Dương · Mặt trận Quốc gia Thống nhất · Việt Nam Cách mệnh Đảng · Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội · Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng · Đảng Xã hội Việt Nam · Hội Phục Việt · Đại Việt Duy dân Cách mệnh Đảng · Đại Việt Quốc gia Liên minh



1945-1954

Đảng Lao động Việt Nam · Việt Nam Quốc dân Đảng · Đại Việt Quốc dân đảng · Đảng Xã hội Việt Nam · Đảng Dân chủ Việt Nam · Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội · Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội · Đảng Dân chủ Xã hội Việt Nam · Đảng Dân chủ An Nam · Liên minh Dân chủ · Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam · Bảo hoàng chính đảng · Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp · Tân Việt Nam đảng · Việt Nam Liên đoàn Công giáo · Việt Nam Quốc gia Liên hiệp · Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội · Mặt trận Quốc gia liên hiệp · Việt Nam Dân chúng Liên đoàn



1954-1975



Miền Bắc

Đảng Lao động Việt Nam · Đảng Xã hội Việt Nam · Đảng Dân chủ Việt Nam



Miền Nam

Đảng Dân chủ Nam Việt Nam · Đảng Cần lao Nhân vị · Đảng Dân chủ Xã hội Việt Nam · Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam · Đại Việt Quốc dân đảng · Đại Việt Cách mạng Đảng · Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam · Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam




1975-1988

Đảng Cộng sản Việt Nam · Đảng Xã hội Việt Nam · Đảng Dân chủ Việt Nam



1988 đến nay



Hợp pháp

Đảng Cộng sản Việt Nam



Không hợp pháp

Đảng Thăng Tiến Việt Nam · Đảng Dân chủ thế kỷ 21 · Đảng Dân chủ Việt Nam



Hải ngoại

Đảng Dân tộc Việt Nam · Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng · Đại Việt Quốc dân đảng · Đại Việt Cách mạng Đảng · Đảng Nhân dân Hành động Việt Nam · Chính phủ lâm thời Việt Nam Tự do









Thể loại: Việt Nam Quốc dân Đảng
Tổ chức chính trị Việt Nam
Hình đại diện của thành viên
kimau
 
Bài viết: 2017
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 6 15, 2009 7:18 am

Vụ án phố Ôn Như Hầu

Gửi bàigửi bởi kimau vào ngày Thứ 4 Tháng 8 28, 2013 9:42 pm

Vụ án phố Ôn Như Hầu


Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Bước tới: menu, tìm kiếm


Vụ án phố Ôn Như Hầu là vụ án xảy ra tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946. Sở Công an Bắc Bộ điều tra và thu thập được nhiều chứng cứ chứng tỏ Việt Nam Quốc dân Đảng âm mưu đảo chính nhằm lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,[1][2] từ đó đã lập Chuyên án số 7 phố Ôn Như Hầu phá vỡ âm mưu này.[3] Tuy nhiên Việt Nam Quốc dân Đảng và một số sử gia phương Tây cho rằng đây là một vụ việc do Việt Minh dựng lên nhằm triệt hạ đối thủ chính trị của mình là Việt Nam Quốc dân Đảng.[4][5]



Mục lục
[ẩn] 1 Lịch sử
2 Bối cảnh
3 Hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng
4 Diễn biến 4.1 Theo Công An nhân dân Việt Nam 4.1.1 Chỉ đạo phá án
4.1.2 Khám xét trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng tại số 7 Ôn Như Hầu
4.1.3 Kết quả khám xét số 7 Ôn Như Hầu
4.1.4 Khám xét trụ sở đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau
4.1.5 Các sự kiện có liên quan

4.2 Theo Việt Nam quốc dân Đảng và các học giả nước ngoài

5 Đánh giá
6 Ảnh hưởng
7 Chú thích
8 Tham khảo

Lịch sử[sửa]

Theo những kết quả điều tra và những kiến giải của Công an Nhân dân Việt Nam trong thời điểm đó, những tổ chức thực hiện kế hoạch đảo chính này do Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng thuộc Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam phối hợp với thực dân Pháp, dự định tiến hành vào ngày 14/7/1946. Cụ thể hơn, kế hoạch của Việt Quốc và Việt Cách là dự định nhân ngày Quốc khánh nước Pháp (14/7), khi quân đội Pháp sẽ diễu binh trên một số đường phố lớn ở Hà Nội, người của Quốc dân Đảng sẽ ném lựu đạn vào quân Pháp, từ đó tạo cớ cho phía Pháp tấn công bao vây các cơ quan trung ương, bắt cán bộ lãnh đạo và nhân viên Chính phủ, lật đổ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhân dịp đó Quốc dân Đảng sẽ tuyên bố đảo chính, lập Chính phủ mới.[6].[7] Do lực lượng công an đã điều tra, thu thập thông tin nên sớm phát hiện âm mưu của Việt Quốc, Việt Cách. Ngày 12/7/1946 lực lượng công an nhân dân đã tiến hành khám xét trụ sở bí mật của Quốc dân Đảng ở số nhà 132 phố Duvigneau (nay là phố Bùi Thị Xuân). Cùng ngày, công an tấn công một loạt cơ sở khác của Quốc dân Đảng ở Hà Nội, trong đó có nhà số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội). Tiếp sau Hà Nội, lực lượng công an nhân dân đã tiến hành khám xét các cơ sở của Việt Quốc, Việt Cách ở Hải Phòng và một số tỉnh khác ở miền Bắc. Trong quá trình khám xét trụ sở của Việt Quốc, Việt Cách, công an đã thu được nhiều vũ khí, truyền đơn, tài liệu, giấy bạc giả, dụng cụ tra tấn... Việc phá vụ án này có ý nghĩa to lớn góp phần củng cố chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới còn non trẻ, để từ đó chuẩn bị bước vào cuộc chiến tranh chống lại sự tái xâm lược của thực dân Pháp trong giai đoạn 1946 - 1954.[7]

Còn theo quan điểm của phía Việt Nam Quốc dân Đảng[8] và các nhà sử học như Cecil B. Currey (Hoa Kỳ)[9], thì kế hoạch này không có thật và đây một vụ việc do phía Việt Minh, dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp, dựng lên nhằm triệt hạ đối thủ chính trị của mình là Việt Nam Quốc dân Đảng. Một số học giả khác như Gisèle Luce Bousquet và Pierre Brocheux (Pháp)[10] thì cho rằng đến nay chưa ai biết sự thật vụ việc này như thế nào.

Bối cảnh[sửa]

Tháng 8 năm 1945, ngay sau khi Nhật tuyên bố đầu hàng đồng minh, Việt Minh thực hiện cuộc tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám giành chính quyền trên cả nước, buộc lực lượng quân quản Nhật và chính quyền các địa phương của Đế quốc Việt Nam bàn giao quyền lực. Các đảng phái khác theo chủ nghĩa quốc gia như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân đảng... cũng nổi dậy ở một số nơi.[11][cần số trang] Đế quốc Việt Nam không chống lại các lực lượng này mà chấp nhận chuyển giao quyền lực trong hòa bình.[cần dẫn nguồn] Thời điểm này, Việt Minh có những xung đột quân sự với Đại Việt, Việt Nam Quốc dân đảng tại một số địa phương ở miền Bắc.[11] Sau khi Việt Minh giành chính quyền từ tay chính quyền Đế quốc Việt Nam thân Nhật tại nhiều địa phương, vua Bảo Đại cũng buộc phải thoái vị; ngày 2 tháng 9 năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại quảng trường Ba Đình.

Khi 20 vạn quân Trung Hoa Quốc dân Đảng (quân Tưởng Giới Thạch) vào Việt Nam giải giáp vũ khí quân Nhật theo sự phân công của phe đồng minh, bộ phận hải ngoại ở Trung Quốc của Việt Nam Quốc dân đảng cũng theo quân Tưởng về Việt Nam.[12] Lực lượng quân đội Trung Hoa Dân Quốc mang theo kế hoạch "Diệt Cộng cầm Hồ" của Tưởng Giới Thạch, nhằm ủng hộ các đảng phái quốc gia thành lập một chính phủ thân Trung Hoa Quốc dân Đảng tại Việt Nam.[13] Để tránh xung đột với 20 vạn quân Tưởng, trong khi không đủ sức nắm toàn bộ chính quyền, Chính phủ Cách mạng Lâm thời đồng ý thiết lập một chính phủ liên hiệp lâm thời, trong đó có sự tham gia của Việt Nam Quốc dân Đảng được quân Tưởng hậu thuẫn.

Hai phe tự xưng là đối lập trong Chính phủ là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) không tham gia bầu cử. Qua trung gian của tướng Trương Phát Khuê (tư lệnh quân đội Trung hoa Quốc dân đảng tại Việt Nam), Chính phủ Cách mạng Lâm thời tạm thời hòa giải với các lực lượng khác. Trong kỳ họp thứ nhất Quốc hội đã đồng ý nhượng thêm 70 ghế và 4 bộ (Ngoại giao, Kinh tế, Xã hội và Canh nông) mà không thông qua bầu cử cho các phái này theo thỏa thuận ngày 24 tháng 12 năm 1945 giữa Chính phủ Cách mạng Lâm thời và hai lực lượng này tại Đại sứ quán Trung Hoa. Nhận định về việc này, Võ Nguyên Giáp cho rằng Việt Quốc và Việt Cách hiểu rõ một cuộc tuyển cử công bằng sẽ không có lợi cho họ[14]

Trên thực tế khi cuộc bầu cử Quốc hội khóa I diễn ra, các đảng này còn phát động tẩy chay bầu cử với tuyên truyền rằng: trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản... chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được[15] đồng thời tổ chức các cuộc tuần hành, bắc loa hô hào kêu gọi tẩy chay bầu cử[15]. Theo báo Sự thật thì Việt Quốc, Việt Cách thậm chí bắt cóc, giết những ứng cử viên, đảng viên cộng sản, cán bộ Việt Minh (tiêu biểu là Trần Đình Long[16]) hay thủ tiêu những người cùng tổ chức có cảm tình với Chính phủ.[17] Ngay trong ngày bỏ phiếu vẫn có các sự việc chống đối xảy ra: Trong ngày tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân Đảng mang tiểu liên đến Ngũ Xã ngăn không cho đặt hòm phiếu, cấm người dân treo cờ. Người dân Ngũ Xã kéo sang khu phố Nguyễn Thái Học gần đó để bỏ phiếu.[18]

Tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký kết hiệp định với Pháp, cho phép quân Pháp tiến ra miền Bắc Việt Nam, thay thế quân Trung Quốc Quốc dân Đảng, vốn là lực lượng ủng hộ Việt Nam quốc dân Đảng. Ngày 31 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng rời Việt Nam đến Paris để thương lượng về tình hình Việt Nam, Võ Nguyên Giáp ở lại lãnh đạo lực lượng Việt Minh[19] và Huỳnh Thúc Kháng giữ quyền chủ tịch nước lãnh đạo chính phủ.

Sự hiện diện của quân Trung Quốc đã bảo đảm sự tồn tại của Việt Nam quốc dân Đảng và Đồng Minh hội, nhưng họ không thể cạnh tranh được với Việt Minh trên phương diện lãnh đạo, cảm tình của nhân dân và tuyên truyền tập hợp quần chúng. Ngày 19 tháng 6, báo Cứu Quốc của Việt Minh đăng một bài xã luận lên án mạnh mẽ "bọn phản động phá hoại" hiệp định ngày 6 tháng 3.[4] Lực lượng trinh sát thuộc Nha Công an đã điều tra Việt Quốc, Việt Cách; phát hiện các tổ chức này câu kết với Pháp dự định lật đổ chính phủ, bắt cóc, tra tấn, giết người, tàng trữ vũ khí, in truyền đơn chống chính phủ... Sau khi báo cáo với các thành viên Chính phủ, được sự đồng ý của Chính phủ đã tiến hành bao vậy, khám xét tại các trụ sở của Việt Quốc, Việt Cách.


Ambox question.svg
Bài này hoặc đoạn này có thể chứa một đoạn tổng hợp chưa công bố của các thông tin đã được xuất bản để truyền đạt các ý tưởng không gắn với nội dung của nguồn chính.
Xin giúp Wikipedia bằng cách thêm vào nguồn mà chủ đề chính là vấn đề bài viết/đoạn viết đang đề cập. Xem Trang thảo luận bài để biết thêm chi tiết.


Ngày 29-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 82-SL về việc ủy nhiệm Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay Chủ tịch Chính phủ đi vắng, ký công văn hàng ngày và chủ toạ họp Hội đồng Chính phủ.[20] Theo Sắc lệnh số 23/SL của Chính phủ ngày 21 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Công an vụ là cơ quan thuộc Bộ Nội vụ, như vậy theo quy định luật pháp thì thẩm quyền chỉ đạo lực lượng công an nằm trong tay của phó chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng. Như vậy từ trước khi lực lượng công an nhân dân phá vụ án phố Ôn Như Hầu, Võ Nguyên Giáp đã không còn là Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ông cũng không ở trong nội các, nên về nguyên tắc theo quy định của pháp luật thì không có thẩm quyền trong việc điều động chỉ huy lực lượng công an và Vệ quốc đoàn. Phải đến khi sắc lệnh 230 ra ngày 30/11/1946 có hiệu lực thì ông Võ Nguyên Giáp theo quy định của pháp luật mới có thẩm quyền tổng chỉ huy lực lượng quân đội toàn quốc.[21][22][nghiên cứu chưa công bố?] Tuy nhiên Việt Nam Quốc dân Đảng và sử gia người Mỹ Cecil B. Currey cho rằng: với sự trợ giúp của quân Pháp, chính Võ Nguyên Giáp là người đã chỉ huy lực lượng công an và quân đội khám xét và bắt giữ các thành phần chống đối.[4][5] Theo nhà sử học người Mỹ Cecil B. Currey, ngày 15 tháng 6, Võ Nguyên Giáp bắt đầu chỉ huy lực lượng an ninh khám xét các tổ chức có thể đe dọa đến Chính phủ[19]. Số 7 Ôn Như Hầu chỉ là nơi làm việc bình thường của Việt Nam Quốc dân Đảng. Lực lượng công an dưới sự chỉ đạo của Võ Nguyên Giáp đã tấn công nơi này trong lúc Việt Nam Quốc dân Đảng không đề phòng sau đó dựng hiện trường giả để có cớ tiêu diệt Việt Nam Quốc dân Đảng.[4][5] Còn theo sử gia Trần Trọng Kim thì khi được hỏi về công việc, bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đã nói với ông: "Bây giờ việc gì cũng do địa phương tự trị cả, thành ra không có việc gì mấy, và khi có việc gì, thì họ làm sẵn xong cả rồi, tôi chỉ có vài chữ ký mà thôi".[23][nghiên cứu chưa công bố?]

Hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng[sửa]

Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và cuộc bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946, Việt Nam Quốc dân đảng được giữ hơn 40 ghế trong số 70 ghế đại biểu không phải qua bầu cử trong Quốc hội khóa I và có một số thành viên chủ chốt tham gia lãnh đạo Quốc hội và Chính phủ do Quốc hội khóa I bầu ra như Nguyễn Hải Thần (Phó chủ tịch Quốc hội), Trương Đình Chi (Bộ trưởng xã hội, y tế và lao động). Theo hồi ký Những năm tháng không thể nào quên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, do không bằng lòng với vị trí có được, Việt nam Quốc dân Đảng tìm cách lật đổ Việt Minh để cùng với các đảng phái Việt Cách, Đại Việt... chiếm chính quyền.[24]

Trong khi giải giáp vũ khí của quân Nhật tại phía Bắc vĩ tuyến 16 theo Hiệp ước Hoa - Pháp tháng 2 năm 1946 và Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ngày 6 tháng 3 năm 1946, quân Pháp đã chuyển giao cho Việt Nam Quốc dân đảng và các đảng phái đối lập với Việt Minh hàng tấn vũ khí thu gom được của Nhật. Với số vũ khí này và được thực dân Pháp "bật đèn xanh", Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân đảng đã tổ chức các đội vũ trang mang tên "Thần lôi đoàn", "Thiết huyết đoàn", "Hùm xám"... Các đội vũ trang này đã tổ chức nhiều vụ cướp có vũ trang, bắt cóc, tống tiền, tổ chức ám sát những người theo Việt Minh và cả những người trung lập như ông Ba Viên rồi tuyên truyền đổ lỗi cho Việt Minh đã không đảm bảo được an ninh trật tự ở Hà nội và một số đô thị ở Bắc Bộ.[3]

Đầu tháng 6 năm 1946, Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức cho Nghiêm Xuân Chi (đảng viên Việt Quốc) ám sát một số lãnh đạo của Việt Minh như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh và ông Bồ Xuân Luật, một người cũ của Việt Cách nay đứng về phe Việt Minh. Vụ ám sát được bố trí tại Nhà Thủy tọa, cạnh Hồ Gươm, đối diện với nhà số 8 đường Vua Lê (nay là phố Lê Thái Tổ) một trong những nơi ăn nghỉ của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khi Nghiêm Xuân Chi chưa kịp ra tay thì đã bị tổ trinh sát của Sở Công an Bắc Bộ do Nguyễn Bá Hùng chỉ huy khống chế. Khám người Nghiêm Xuân Chi, Công an Bắc bộ thu được hai khẩu súng ngắn với 12 viên đạn trong ổ đạn. Mỗi khẩu đều có một viên đã lên nòng. Tại trụ sở Công an Bắc bộ (số 87 đường Gamberta, nay là phố Trần Hưng Đạo), Nghiêm Xuân Chi khai nhận đã được các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng giao nhiệm ám sát một số lãnh đạo Việt Minh[25]

Trước những hoạt động gây mất trật tự an ninh tại Hà Nội và một số thành phố ở Bắc Bộ, Sở Công an Bắc Bộ đã lập chuyên án mà sau này được lấy tên công khai là Chuyên án số 7 phố Ôn Như Hầu.[3]

Diễn biến[sửa]

Theo Công An nhân dân Việt Nam[sửa]

Chỉ đạo phá án[sửa]

Theo lời kể của Đại tá Trần Tấn Nghĩa (lúc đó là Đội trưởng Đội trinh sát đặc biệt của Sở Công an Bắc Bộ), cuối tháng 6/1946, Nha Công an Trung ương nhận được nguồn tin của cơ sở phát hiện được âm mưu của thực dân Pháp câu kết với Quốc dân Đảng đang chuẩn bị thực hiện âm mưu đảo chính chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.[1] Sau khi xin ý kiến trung ương về âm mưu của Quốc dân Đảng, Trường Chinh, Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc bấy giờ lấy tên gọi mới là Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương) đã cho ý kiến chỉ đạo phải tập trung trấn áp bọn phản cách mạng, nhưng phải có đủ chứng cứ. Nha Công an Trung ương cử trinh sát điều tra và thu thập được nhiều chứng cứ chứng minh các hành vi tội ác của Quốc dân Đảng. Cụ thể là Quốc dân Đảng đang ráo riết in tài liệu, truyền đơn phản động, bắt giết cán bộ... để thực hiện âm mưu đảo chính.[1] Một cuộc họp của Nha Công an kéo dài đến 12h đêm ngày 11/7/1946 đã đi đến quyết định phải bí mật, bất ngờ tập kích các trụ sở của chúng ở số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều), số 132 phố Duvigneau (nay là phố Bùi Thị Xuân và số 80 phố Quán Thánh.[1][26]

Chỉ đạo trực tiếp lực lượng công an phá vụ án này là các ông Lê Giản (Giám đốc Nha công an Trung ương[27]), Nguyễn Tuấn Thức (Giám đốc Sở Công an Bắc Bộ) và Nguyễn Tạo (Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương).[28] Lực lượng công an xung phong tổ chức khám xét căn nhà nhằm phá vỡ âm mưu câu kết của Đại Việt và Việt Nam Quốc dân Đảng với quân đội Pháp. Âm mưu của hai đảng này nhằm khi quân Pháp diễu binh mừng Quốc khánh Pháp ngày 14 tháng 7, sẽ ném lựu đạn vào đoàn lính da đen duyệt binh, sau đó Pháp sẽ vu cho chính quyền Việt Nam tấn công quân Pháp, tạo cớ cho Pháp bao vây các cơ quan trung ương, bắt cán bộ lãnh đạo và nhân viên chính phủ, lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhân dịp đó Đại Việt và Quốc dân Đảng sẽ tuyên bố đảo chính, lập chính phủ mới.[29][30]

Khám xét trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng tại số 7 Ôn Như Hầu[sửa]

Ngày 12/7/1946, vào khoảng bảy giờ sáng, Đội trinh sát đặc biệt ngồi trên chiếc ôtô hòm từ Sở Công an Bắc Bộ (Công an Hà Nội bây giờ) theo đường Trần Bình Trọng đến Ôn Như Hầu. Theo kế hoạch, Trần Tấn Nghĩa mang theo mệnh lệnh sự vụ để thực hiện nhiệm vụ bắt, khám xét những người có mặt tại trụ sở số 7 phố Ôn Như Hầu can tội tống tiền, bắt cóc người đưa về Sở Công an Bắc Bộ. Khi Đội trinh sát đặc biệt đến thì lực lượng Công an xung phong và tự vệ chiến đấu đã bao vây trụ sở. Trần Tấn Nghĩa xuống xe và ra hiệu cho toàn đội trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Việc đầu tiên là cắt dây điện thoại để không lực lượng Quốc dân Đảng liên lạc với nhau. Trần Tấn Nghĩa tiến sát đến cổng (lúc đó có khoảng một tiểu đội lính gác vũ khí đầy đủ và trên hành lang cũng có nhiều lính có vũ khí) gọi người bên trong mở cổng, đón tiếp Sở Công an Bắc Bộ đến nói chuyện với chỉ huy.[1].

Phan Kích Nam tiếp Trần Tấn Nghĩa. Trần Tấn Nghĩa xưng tên, chức vụ, nói rõ đến bắt, khám xét đưa những người có mặt ở số 7 Ôn Như Hầu về Sở Công an Bắc bộ để xét hỏi, vì có nhiều đơn tố cáo hành động bắt cóc, tống tiền. Phan Kích Nam từ chối đi theo Trần Tấn Nghĩa với lý do là Đại biểu Quốc hội nên có quyền bất khả xâm phạm. Trong khi đó người ký lệnh bắt Phan Kích Nam là Phó chủ sự của Việt Minh[1]. Hơn nữa đây là trụ sở một Đảng nên không thể tùy tiện khám xét. Phải có ý kiến của Hồ Chí Minh thì mới có thể bắt ông được. Trần Tấn Nghĩa rút lui.

Lần thứ hai, Trần Tấn Nghĩa đến số 7 phố Ôn Như Hầu. Theo kế hoạch đã được cấp trên chấp thuận, Trần Tấn Nghĩa sẽ mời Phan Kích Nam về trụ sở công an trước, rồi sau đó thực hiện khám xét và bắt lực lượng Quốc đân đảng còn lại. Phan Kích Nam tiếp Trần Tấn Nghĩa và khuyên Trần Tấn Nghĩa quay về báo cáo với cấp trên rằng công an không có quyền bắt ông.[31] Sau đó Trần Tấn Nghĩa ra về.

Lần thứ ba Trần Tấn Nghĩa quay lại số 7 Ôn Như Hầu khoảng 10h30, một vệ sĩ chờ sẵn để đưa ông vào gặp Phan Kích Nam. Khi vào Trần Tấn Nghĩa chủ động tháo thắt lưng đeo súng đặt trên bàn. Phan Kích Nam rót nước mời ông. Một lát, Trần Tấn Nghĩa tỏ ra buồn bực và đứng dậy cáo biệt, rút lui, vờ quên súng ở bàn. Phan Kích Nam vội vàng cầm súng của ông theo và bảo: “Này chú em, chú quên súng này”. Nhanh như cắt, Trần Tấn Nghĩa rút khẩu colt được giấu dưới áo khoác, chĩa thẳng nòng súng vào đầu Phan Kích Nam và dõng dạc quát: “Đứng im, động đậy tao bắn vỡ sọ” và bằng động tác nhanh gọn, lấy mu bàn tay trái chặt vào gáy Phan Kích Nam. Phan Kích Nam lảo đảo rồi khuỵ xuống. Trần Tấn Nghĩa bẻ quặt tay Phan Kích Nam ra đằng sau và ra lệnh tất cả phải bỏ súng, không được chống cự. Phan Kích Nam phải làm theo lệnh của Trần Tấn Nghĩa. Sau đó Trần Tấn Nghĩa lệnh cho đội trinh sát và các lực lượng khác theo đúng kế hoạch xông vào bắt xích tay tất cả người của Quốc dân Đảng về Sở Công an Bắc Bộ.[1]

Kết quả khám xét số 7 Ôn Như Hầu[sửa]

Khi khám xét số 7 - Ôn Như Hầu ngày 12 tháng 7, Công an Bắc Bộ thu được 8 súng ngắn, 5 súng trường và 1 trung liên Nhật, dụng cụ tra tấn, thuốc mê và đào được 6 xác người chôn đứng trong vườn chuối sau nhà. Tuy nhiên, trụ sở hành chính của Việt Nam Quốc dân đảng tại số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều) chỉ là bình phong để che đậy hai căn cứ quan trọng hơn của Việt nam Quốc dân đảng trong nội thành Hà Nội khi đó là nhà số 132 phố Duvigneau (nay là phố Bùi Thị Xuân) và nhà số 80 phố Quán Thánh. Cuộc bắt, khám xét tại 132 - Duvigneau và 80 Quán Thánh diễn ra cùng thời điểm với vụ bắt, khám xét ở số 7 - Ôn Như Hầu. Tại nhà số 132 phố Duvigneau, Nha Công an Bắc Bộ thu giữ nhiều tang vật gồm 6 máy in tipo với các "bát chữ" còn nguyên vẹn nội dung; 11 mặt đá in lito đã khắc chữ; trên 3 tạ truyền đơn, khẩu hiệu; tài liệu chống Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa in xong còn chưa kịp chuyển đi; 18,6 kg tiền giả (gồm cả giấy bạc Quan Kim và giấy bạc Đông Dương); 12 khẩu súng ngắn, 8 khẩu tiểu liên, 17 súng trường, 3 trung liên FM và 13 quả lựu đạn Nhật. Khám xét tại nhà số 80 phố Quán Thánh, Công an Bắc Bộ thu được 9 súng ngắn, 21 súng trường, 2 trung liên Nhật, 11 quả lựu đạn các loại, hai thùng tài liệu, truyền đơn chống chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quân Pháp tại Hà Nội đã điều xe tăng đến can thiệp vào vụ bắt, khám xét tại 80 phố Quán Thánh nhưng Việt Minh đã tiến hành đàm phán trên cơ sở Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1945. Trưa ngày 12 tháng 7, xe tăng và quân Pháp rút khỏi phố Quán Thánh.[32]

Ngoài ra lực lượng công an đã tìm ra một máy làm tiền giả và một căn phòng với bức tường đẫm máu và nhiều dụng cụ tra tấn. Trong khu vườn sau nhà đã khai quật được bảy xác chết, một số đã bị chặt chân tay. Hai người bị bắt cóc tống tiền được cứu kịp thời trước khi bị giết. Trong lúc công an đang tiếp tục tìm kiếm, một người mang kiếm Nhật đi vào và la hét ông chính là lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân Đảng và là một đại biểu Quốc hội và nói rằng không ai có quyền đụng chạm ông. Một trong những người bị bắt cóc trỏ ngón tay vào ông ta và cho rằng hắn chính là kẻ đã bắt cóc ông.[33] Ngay sau đó mấy ngày, lực lượng công an đã tổ chức triển lãm công khai các vật chứng tại căn nhà.

Khám xét trụ sở đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau[sửa]

Cũng trong ngày 12/7/1946, một tiểu đội công an do Lê Hữu Qua chỉ huy[34] bao vây khám xét trụ sở của đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau, do phát hiện Đại Việt cấu kết với Pháp âm mưu tiến hành đảo chính chính quyền cách mạng đúng vào ngày quốc khánh Pháp 14/7/1946.[35] Khi thực hiện cuộc bao vây khám xét này, lực lượng công an chưa có chứng cứ cụ thể và chưa có lệnh của cấp trên. Nhưng vẫn thực hiện bao vây khám xét để các thành viên Đại Việt không có thời gian rút vào bí mật và tẩu tán truyền đơn, hiệu triệu lật đổ chính quyền. Lực lượng công an tiến hành đột kích bất ngờ vào lúc sáng sớm khiến lính canh và các đảng viên Đại Việt không kịp có hành động phản ứng.[34] Tại trụ sở của Đại Việt, lực lượng công an đã tìm thấy nhiều truyền đơn, hiệu triệu chưa kịp tẩu tán cùng nhiều súng ống, lựu đạn.[35]

Các sự kiện có liên quan[sửa]

Ngày 13 tháng 7, tướng Morlière, tư lệnh các lực lượng Pháp tại Hà nội đã cử sĩ quan tùy tùng đến trụ sở chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Bắc Bộ Phủ thông báo việc người Pháp rút đề nghị tổ chức cuộc diễu binh của quân Pháp tại Hà Nội do nhận thấy không bảo đảm an toàn. Tại dây, viên tùy tùng của tướng Morlière được đại diện Chính phủ Việt Nam thông báo rằng Việt Minh sẽ tổ chức cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội và một số con phố quanh Hồ Gươm để chào mừng kỷ niệm ngày Cách mạng Pháp 14-7-1789. Tất cả những chứng cứ, tang vật, truyền đơn, khẩu hiệu, ảnh chụp những xác chết, những hố chôn người... mà Công an Bắc Bộ thu tập được trong Vụ án phố Ôn Như Hầu đều được trưng bày cho toàn thể nhân dân Hà Nội được biết trong cuộc mít tinh diễu hành này.[25]

Theo Việt Nam quốc dân Đảng và các học giả nước ngoài[sửa]

Sau nhiều lần bị Việt Minh tấn công, Việt Nam Quốc dân Đảng đã rút lui về phía bắc, nhưng vẫn giữ một trụ sở bí mật ở Hà Nội tại số 7 (theo lãnh đạo Việt Nam Quốc dân Đảng Hoàng Văn Đào là số 9) phố Ôn Như Hầu (tên tiếng Pháp là rue Bonifacy,[36] nay số 7 phố Nguyễn Gia Thiều). Trước kia căn nhà này được quân đội Trung Quốc sử dụng, nhưng đã được trao cho Việt Nam Quốc dân Đảng.[37] Tầng một tòa nhà này là nơi huấn luyện chính trị cho những đảng viên nòng cốt của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Tầng hai là Văn phòng Tiểu ban Tuyên truyền và Giáo dục Ðệ Thất Chiến Khu Việt Nam Quốc Dân Đảng được dời từ Quảng Ngãi về Hà Nội.[5] Khoảng 8 giờ tối ngày 12 tháng 7, lực lượng công an theo chỉ đạo của Trường Chinh, lúc này là Hội trưởng Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương,[38] đã tổ chức khám xét căn nhà này và tìm thấy hố chôn tập thể và phòng tra tấn.[37]

Theo Hoàng Văn Đào, Võ Nguyên Giáp được một nhân viên an ninh báo cáo rằng khi anh ta bị bắt tại trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng tại phố Ôn Như Hầu đã nghe được tin ngày 14/7/1946 Việt Nam Quốc dân Đảng sẽ ám sát những đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Pháp mời tham dự lễ duyệt binh mừng Quốc khánh Pháp. Võ Nguyên Giáp đã đem chuyện này báo cho người Pháp biết sau đó tổ chức tấn công Việt Nam Quốc dân Đảng.[5]

Theo Hoàng Văn Đào, đây là những binh sĩ Trung Hoa Dân Quốc chết và được Trung Quốc chôn trong sân ngôi nhà trước khi được Việt Nam Quốc dân Đảng sử dụng làm văn phòng[5]. Còn theo nhà sử học quân sự người Mỹ Cecil B. Currey trong quyển tiểu sử Võ Nguyên Giáp Victory at any Cost cho rằng việc này là do chính Võ Nguyên Giáp dựng lên. Sau khi chiếm lấy căn nhà, Võ Nguyên Giáp đã cho người xây dựng căn phòng tra tấn, đào lên xác chết trong mộ và đặt vào trong căn nhà, rồi tuyên bố đã khám phá ra hố chôn tập thể của người bị Việt Nam Quốc dân Đảng dã man giết chết.[4] Cũng theo Currey, nhiều xác chết thực ra chính là thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng bị lực lượng an ninh của Võ Nguyên Giáp giết chết.[4]

Hoàng Văn Đào thừa nhận Việt Nam Quốc Dân Đảng đã từng bắt cóc giết người, nhưng sẽ không bao giờ hành hình 7 người rồi chôn xác ngay tại trụ sở; họ có thể dễ dàng đeo các tảng đá lớn vào xác chết rồi ném xuống Hồ Thiền Quang ở gần đó.[39]

Đánh giá[sửa]

Đối với lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, đây là thắng lợi lớn trong công tác bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, bảo vệ nhân dân, góp phần quan trọng trong việc chuẩn bị bước vào cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954). [cần dẫn nguồn]

Ngoài các ý kiến, tư liệu chính thống, còn có các ý kiến, tài liệu trái chiều của Việt Quốc, Việt Cách và các nhà nghiên cứu nước ngoài.

Nhà báo Mỹ Arthur J. Dommen đã ví vụ án này với những sự kiện trong cuộc cách mạng Nga. Theo ông, vào mùa hè năm 1918, khi dân chúng đã bắt đầu hết ảo tưởng về sự lãnh đạo của khối Bolshevik, Ban chấp hành Trung ương Đảng Xã hội Cách mạng Cánh tả quyết định dùng khủng bố và nếu cần ám sát các quan chức cao cấp của Đức nhằm làm chấm dứt Hòa ước Brest-Litovsk, tương tự như kế hoạch của Việt Nam Quốc Dân đảng tấn công và ám sát quan chức Pháp nhằm làm chấm dứt Hiệp định sơ bộ. Lenin đã lợi dụng vụ đại sứ Đức Wilhelm von Mirbach bị ám sát để tiêu diệt đối thủ chính trị là Đảng Xã hội Cách mạng Cánh tả, giống như Việt Minh đã lợi dụng vụ này để trừ một đối thủ chính trị là Việt Nam Quốc Dân Đảng.[40]

Ảnh hưởng[sửa]

Vụ án phố Ôn Như Hầu đã thay đổi ý kiến của một số người về vai trò của Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Hoàng Xuân Hãn lúc đầu bào chữa cho Việt Nam Quốc Dân Đảng, cho rằng những người bị tra tấn là người giàu, và những người tra tấn là Trung Hoa Quốc Dân Đảng giả làm Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhưng sau khi được đưa bằng chứng là trong các xác chết có cả Việt Minh, ông lại cho rằng họ là gián điệp [41]. Ông cũng buộc tội Việt Minh đã sát hại Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Sau khi được công an Việt Minh tường thuật về vụ án, chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng, vốn có cảm tình với Việt Nam Quốc Dân Đảng trước kia, cũng đã đập gậy mà nói:

“ Diệt, diệt, phải diệt hết bọn phản nước hại dân này mới được...diệt, diệt, phải diệt hết bọn này! ”

—Huỳnh Thúc Kháng


Tuy không có chứng cớ buộc tội Việt Nam Quốc Dân Đảng, Huỳnh Thúc Kháng đã thay đổi thái độ đối với Việt Nam Quốc Dân Đảng sau vụ này [37] Ông chẳng những cảm thấy ghê tởm đối với vụ án Ôn Như Hầu, mà còn đối với việc Việt Minh lợi dụng việc này để trả thù những người Quốc Dân Đảng sau này [41].

Theo Currey, sau khi sự thật về vụ án được nhiều người biết đến, "vụ án phố Ôn Như Hầu đã mở nhiều con mắt của những người không tin vào màu đỏ của Việt Minh."[9].

Chú thích[sửa]

1.^ a b c d e f g Vụ án Ôn Như Hầu qua lời kể của Đại tá Trần Tấn Nghĩa, Công An Nhân dân 28/8/2005
2.^ Phạm Văn Quyền (chủ biên). 60 năm Công an nhân dân Việt Nam. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2006. Trang 105-106.
3.^ a b c Phạm Văn Quyền (chủ biên). 60 năm Công an nhân dân Việt Nam. NXB Công an nhân dân. 2006. trang 104.
4.^ a b c d e f Cecil B. Currey, Victory at Any Cost: The Genius of Viet Nam's Gen. Vo Nguyen Giap, Potomac Books, tr. 126
5.^ a b c d e f Viet Nam Quoc Dan Dang: A Contemporary History of a National Struggle: 1927-1954, Hoàng Văn Đào, trang 309, RoseDog Books
6.^ Những chặng đường lịch sử vẻ vang của lực lượng An ninh Nhân dân
7.^ a b Báo quân đội nhân dân điện tử - Tiếng vang vụ án Ôn Như Hầu
8.^ Hoàng Văn Đào, Viet Nam Quoc Dan Dang: A Contemporary History of a National Struggle: 1927-1954, Dorrance Publishing, 2008, tr. 309
9.^ a b Currey, tr. 127
10.^ Gisèle Luce Bousquet, Pierre Brocheux, Viêt Nam Exposé: French Scholarship on Twentieth-century Vietnamese Society, University of Michigan Press, 2002; tr. 236
11.^ a b Chiến khu Trần Hưng Đạo, Chương 3 - Chiến khu Trần Hưng Đạo trong tổng khởi nghĩa tháng 8 và những tháng đầu bảo vệ chính quyền cách mạng (8/1945-10/1945), Bộ tư lệnh quân khu 3, Nxb Quân đội nhân dân, 1993
12.^ Việt Nam Quốc dân đảng trong thời kỳ thoái trào và biến chất (1930-1954), Nguyễn Văn Khánh, Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 6/410(2010), Viện sử học Việt Nam
13.^ Đại từ điển Bách Khoa
14.^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên", NXB Trẻ, lưu chiểu tháng 5 năm 2009, trang 99.
15.^ a b Mãi mãi ghi nhớ Quốc hội khoá I (17/05/2011)
16.^ Theo báo Sự thật, số 14 (20-23/1/1946), thì những người bắt cóc Trần Đình Long mặc quần áo Tầu, nói tiếng Việt. Một ủy viên tuyên truyền UBND tỉnh Yên Bái tên Nguyễn Văn Phúc cũng đã bị bắt cóc, về sau người vợ của ông Phúc đến gặp Nguyễn Hải Thần, và được ông đưa đến gặp Vũ Hồng Khanh để xin thả chồng mình. Ông Vũ Hồng Khanh từ chối và nói buột miệng "Ngay đến ông Long gần đây tôi còn chưa cho thả nữa là".
17.^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên", NXB Trẻ, lưu chiểu tháng 5 năm 2009, trang 103.
18.^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, lưu chiểu tháng 5 năm 2009, trang 113.
19.^ a b Cecil B. Currey, Victory at Any Cost: The Genius of Viet Nam's Gen. Vo Nguyen Giap, Potomac Books, tr. 125
20.^ III - TỔNG TUYỂN CỬ - THÀNH LẬP CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP KHÁNG CHIẾN
21.^ Sắc lệnh số 23/SL ra ngày 21 tháng 2 năm 1946
22.^ Giai đoạn 1945-1954: Kháng chiến và Kiến quốc
23.^ Một cơn gió bụi, Chương 6 Chính phủ Việt Nam và tình thế trong nước, Trần Trọng Kim
24.^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 288-289
25.^ a b Nguyễn Trọng Khuê (chủ biên). Những trang sử vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam (1945-2005). NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 14-16
26.^ Phạm Văn Quyền (chủ biên). 60 năm Công an nhân dân Việt Nam. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2006. trang 104-106
27.^ Quá trình trưởng thành của lực lượng CAND Việt Nam qua những dấu mốc lịch sử, TS. Bùi Văn Thịnh, Trưởng Bộ môn NVCS - Học viện CSND
28.^ Con trai “ông tiên thuốc nam” phá vụ án Ôn Như Hầu
29.^ Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tập Hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009, trang 290
30.^ Báo quân đội nhân dân điện tử - Tiếng vang vụ án Ôn Như Hầu
31.^ Vụ án Ôn Như Hầu qua lời kể của Đại tá Trần Tấn Nghĩa, Công An Nhân dân 28/8/2005, Trích: Hắn thấy tôi dễ bảo, tỏ vẻ ngoan ngoãn nên mang nước giải khát mời tôi uống và uống cùng. Khuyên tôi quay về báo cáo, hắn nói: “Không ổn đâu. Chú mày cứ nói lại với mấy ông như vậy. Rút lui thôi. Nếu manh động sẽ ăn đạn và sẽ lĩnh trách nhiệm với Quốc hội. Đừng có đến đây nữa”.
32.^ Phạm Văn Quyền (chủ biên). 60 năm Công an nhân dân Việt Nam. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2006. trang 105-107.
33.^ Giáp tr. 268
34.^ a b Vụ án phố Ôn Như Hầu, thiếu tướng Lê Hữu Qua, Báo Nhân Dân, ngày 19/8/2005
35.^ a b Con trai "ông tiên thuốc nam" phá vụ án Ôn Như Hầu, PHÁP LÝ Online
36.^ Boudarel, Georges. Hanoi: city of the rising dragon. Boston: Rowman & Littlefields Publishers, 2002. tr 95
37.^ a b c Bousquet, tr. 236
38.^ Vụ án Ôn Như Hầu qua lời kể của Đại tá Trần Tấn Nghĩa, Báo Công an Nhân dân Điện tử, 8:40, 28/08/2005, Trích: "Theo ông kể, cuối tháng 6/1946, Nha Công an Trung ương nhận được nguồn tin của cơ sở phát hiện được âm mưu của thực dân Pháp câu kết với bọn phản động Quốc dân Đảng đang chuẩn bị thực hiện âm mưu đảo chính chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi xin ý kiến trung ương về âm mưu thâm độc này, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí Thư đảng ta lúc bấy giờ đã cho ý kiến chỉ đạo phải tập trung trấn áp bọn phản cách mạng, nhưng phải có đủ chứng cứ."
39.^ Georges Boudarel, Nguyễn Văn Ký (2002). Hanoi: City of the Rising Dragon. Rowman & Littlefield. tr. 95.
40.^ Arthur J. Dommen (2001). The Indochinese Experience of the French and the Americans: Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Indiana University Press. tr. 168–169.
41.^ a b Bousquet, tr. 237

Tham khảo[sửa]
Từ điển Bách khoa Việt Nam
Vietquoc.org: Vụ Ôn Như Hầu
Gisele Bousquet và Pierre Brocheux (2002). Viêt-Nam Exposé. Ann Harbor: University of Michigan Press. ISBN 0472098055.
Currey, Cecil B. (2005). Victory at Any Cost: The Genius of Viet Nam's Gen. Vo Nguyen Giap. Brassey's. ISBN 1574887424.
Hammer, Ellen J. (1955). The Struggle for Indochina, 1940–1955. Stanford: Stanford University Press.
Võ Nguyên Giáp (1994). Unforgettable Days (dịch từ Những năm tháng không thể nào quên). Hà Nội: Nhà xuất bản Thế Giới.
Vụ án Ôn Như Hầu qua lời kể của Đại tá Trần Tấn Nghĩa, Công An Nhân dân 28/872005



[ẩn]


s

Chiến tranh Đông Dương



Việt Nam (Đồng bằng Bắc Bộ · Việt Bắc · Tây Bắc · Bắc Trung Bộ · Tây Nguyên · Liên khu 5 · Nam Bộ) · Lào · Cao Miên



Tham chiến




Liên hiệp Pháp
{Chỉ huy}

Pháp (Quân đội viễn chinh · Lính người Việt) · Đông Dương · Nam Kỳ Quốc · Quốc gia Việt Nam (Quân đội Quốc gia) · Lào · Campuchia · Hòa Hảo · Quân đội Cao Đài · Bình Xuyên (một phần) · Xứ Mường · Xứ Thái · Xứ Nùng · Xứ Thượng · Công Giáo
Hỗ trợ: Trung Hoa Dân Quốc · Quân đội Anh · Nhật Bản · Ấn Độ thuộc Anh · Hoa Kỳ (MAAG)




Việt Nam
{Chỉ huy}

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Quân đội Nhân dân · Bình Xuyên (một phần) · Chiến sĩ "Việt Nam mới") · Pathet Lào · Khmer Issarak
Hỗ trợ: Liên Xô · Trung Quốc · Khối Đông Âu




Diễn biến




Nguyên
nhân

Chiến tranh Đại Nam-Pháp · Pháp thuộc · Phong trào Giải phóng Dân tộc Việt Nam · Việt Nam trong Thế chiến II · Cách mạng tháng Tám · Việt Nam độc lập




Cầm cự
(1945-
1947)

Masterdom · Nam Bộ kháng chiến · Sài Gòn · Nam tiến · Gaur · Hoa quân nhập Việt · Lai Châu · Hải Phòng · Bắc Ninh · Lạng Sơn · Đà Nẵng · Un scénario de coup d'Etat · Toàn quốc kháng chiến · Hà Nội '46 · Huế · Nghệ An · Nam Định · Đà Nẵng · Hà Đông · Việt Bắc 1947




Phòng ngự
(1948-
1950)

Véga · La Ngà · Nghĩa Lộ '48 · Tầm Vu · Đường 5 · Yên Bình xã · Đường 3 · Phủ Thông · Đông Bắc I · Đường 4 · Xuân Đai · Khu V · Sông Đà · Quảng Đà · Lao Hà · Vật Lại · Đông Bắc II · Cao-Bắc-Lạng · Sông Lô · Sông Thao · Thập Vạn Đại Sơn · Quảng Nam · Mỹ Tho · Lê Lai · Lê Lợi · Nam Khánh Hoà · Sông Mã · Cầu Kè · Võ Nguyên Giáp · Cầu Ngang · Sơn Hà · Cao Lãnh · Lê Hồng Phong · Trà Vinh · Sóc Trăng I · Phan Đình Phùng · Bến Tre · Hoàng Diệu · Đắk Lắk · Biên giới · Amyot D'Inville · Long Châu Hậu · Bến Cát




Phản công
(1950-
1954)

Trần Hưng Đạo-Trung du · Vĩnh Yên · Bình Liêu · Hoàng Hoa Thám-Đường 18 · Mạo Khê · Quang Trung-Đồng bằng · Tràng Bỏm · Lý Thường Kiệt · Mandarine · Tulipe · Hòa Bình · Tu Vũ · Amphibie-Mercure · Bretagne · Camargue · Adolphe · Concarneau · Tarentaise · Brochet · Tây Bắc · Nghĩa Lộ · Lorraine · Sơn La · Nà Sản '52 · An Khê · Thượng Lào '52 · Mường Khoa · Hirondelle · Nà Sản '53 · Mouette · Castor · Lai Châu · Trung Lào · Đông Xuân · Hạ Lào · Atlante · Bắc Tây Nguyên · Thượng Lào '54 · Điện Biên Phủ · Đồng bằng Bắc Bộ · Phú Thọ Hòa · Đắk Pơ




Chính trị
Ngoại giao




Ngoại giao

Diệt Cộng cầm Hồ · Hoa-Pháp · Hiệp định Sơ bộ · Đà Lạt · Fontainebleau · Hội nghị Liên bang · Tạm ước Việt - Pháp · Tối hậu thư · Paul Mus · Thỏa thuận vịnh Hạ Long · Hiệp ước Élysée · Ngoại giao 1950 · Campuchia · Lào · Phòng thủ chung · Hợp tác Kinh tế Việt-Mỹ · Hiệp định Genève, 1954 · Hội nghị Quân sự Trung Giã · Ngừng bắn




Chính trị

Chính trị Việt Nam (1945-1946) · Chính phủ Liên hiệp Lâm thời · Bầu cử Quốc hội · Liên hiệp Kháng chiến · Nam Kỳ tự trị · Chính phủ Kháng chiến · Vụ Ôn Như Hầu · Chiến dịch phá tề · Phong hàm sĩ quan · Đại hội II ĐCSĐD




Phong trào
quần chúng

Biểu tình Sài Gòn · Toàn quốc chống Mỹ · Bãi công Hà Tu · Biểu tình Khánh Hòa · Biểu tình Hải Phòng · Tuyên ngôn hòa bình trí thức Sài Gòn-Chợ Lớn




Khác




Chiến lược
quân sự

Du kích vận động chiến · Chiến tranh nhân dân · Kế hoạch Roger · Hành lang đông-tây · Kế hoạch De Lattre de Tassigny · Phòng tuyến Tassigny · Da vàng hóa chiến tranh · Kế hoạch Navare · Chiến cục đông-xuân 1953-1954 · Chiến thuật "đánh chắc thắng"




Ném bom

Vulture · Condor




Tổn thất

Thiệt hại của Pháp · Thiệt hại của Việt Nam · Viện trợ của Mỹ




Nhân đạo

Thảm sát Hàng Bún · Thảm sát Cát Bay · Thảm sát Mỹ Trạch




Hậu quả

Sự tham gia của Mỹ · Chia cắt Việt Nam · Giới tuyến Bến Hải · Di cư Việt Nam · Chiến tranh Việt Nam · Văn học nghệ thuật
Hình đại diện của thành viên
kimau
 
Bài viết: 2017
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 6 15, 2009 7:18 am


Quay về Lịch Sử - Văn Hóa


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến và 1 khách