Bảng điều khiển của điều hành viên ]

Nguyễn Cần, bút hiệu Lữ Giang, Tú Gàn, ông là ai?

Nguyễn Cần, bút hiệu Lữ Giang, Tú Gàn, ông là ai?

Gửi bàigửi bởi kimau vào ngày Thứ 7 Tháng 3 18, 2017 11:35 am

Nguyễn Cần, bút hiệu Lữ Giang, Tú Gàn, ông là ai?
Posted on January 22, 2012 by danlamthan
Tú Gàn, ông là ai?

Nguyễn Văn Lục

Tôi nhận được bài “Chỉ là chuyện giấc mơ do Tú Gàn gửi đến. Bài viết như thường lệ bàn lung tung nhiều chuyện. Sau đó thòng một vài chuyện chửi người này, người kia. Phải nhìn nhận ông là loại người chửi bới có hạng.

Vào năm 2007, mong ông còn nhớ, tôi đến nhà ông đôi lần chỉ để mong mỏi ông đừng viết chửi nữa. Thuyết phục không được, nói phải trái cũng không xong. Nói riết rồi ông đổ quạu nói, “làm báo là phải chửi…” Hết ý kiến.

Mong muốn của tôi lúc bấy giờ là có được những tờ báo sạch bằng lối viết tử tế. Báo chí, truyền thông trong nước vì bị canh chừng, trù dập trở thành báo hèn vì nịnh. Đó là chuyện chẳng đặng đừng.


Tú Gàn
Truyền thông, báo chí hải ngoại thì được tự do viết. Nhưng học đòi dân chủ, tự do không xong. Tự do biến thành tự do chửi, chửi vung vít, chửi bất cứ ai mình muốn chửi. Báo chí tự biến mình thành báo bẩn vì chửi.

Tôi vẫn chưa tìm ra câu trả lời là tại sao người ta lại phải chửi khi viết báo? Tôi cũng đặt câu hỏi như thế với ông Tú Gàn? Đã có lần để đáp trả Trần Chung Ngọc về những bài viết của ông ấy, tôi đặt câu hỏi là ông đã viết liên tục cả hằng 200 bài báo, đã có bao giờ ông viết được một bài tử tế chưa? Tôi cũng dùng câu hỏi ấy để hỏi Tú Gàn trước đây.

Cho đến nay, tôi vẫn chưa nhận được câu trả lời từ các ông ấy.

Có lẽ, tôi phải dùng một lối tiếp cận gián tiếp bằng cách vay mượn các thuật ngữ: Quyền lực cứng, quyền lực mềm và quyền lực thông minh của Joseph Samuel Nye, Jr. trong phạm vi chính trị để tìm hiểu vấn đề truyền thông báo chí.(1)

1. Quyền lực cứng

Đây là thứ quyền lực mà từ nhiều thế kỷ trước đây người ta đã xử dụng để áp đảo kẻ khác theo nguyên tắc của Nicolo Machiavelli ở Ý là: Tốt hơn hết hãy làm cho đối phương sợ hơn là yêu mến. Đơn giản là mạnh được yếu thua. Cái nguyên tắc của Machiavelli sau này được chuyển dịch ra cái tương quan mà Marx gọi là tương quan Ông chủ-Thằng ở.

Cái nguyên tắc trên xem ra xưa rồi, vì thế mà Joseph Samuel Nye, Jr. cổ xúy cho thứ quyền lực mềm- đường đưa tới thành công trong phạm vi chính trị.

Trong phạm vi truyền thông báo chí như ở trong nước, chính quyền cộng sản xử dụng quyền lực cứng khi dùng bạo lực như đe dọa, kiểm soát, tù đầy để kiểm duyệt, kiểm soát truyền thông báo chí. Đó là cách bịt miệng dân.

Nhà nước dùng bạo lực răn đe biến người cầm bút trở thành những con vẹt biết nói tiếng người hoặc con chó bảo sủa thì sủa, bảo câm thì câm. Chúng biến người cầm bút thành thợ viết giống như thợ may, thợ vịn, v.v…

Ở Hải ngoại, đáng lẽ ra truyền thông báo chí phải là biểu tượng cho một sức mạnh tinh thần nhằm bảo vệ tự do, dân chủ. Sống trong những đất nước có truyền thống dân chủ lâu đời nhất.mà hình như chúng ta chưa học được bao nhiêu ngay cả những bài học vỡ lòng về dân chủ, về tự do. Nhưng một số nhỏ người cầm bút xử dụng ngòi bút như một thứ bạo lực trấn áp, bôi nhọ, mạ lỵ, chế diễu cá nhân. Phải nói là họ đã thành công. Phải nói là ông Tú Gàn đã thành công và bản thân ông ấy cũng hãnh diện về điều này.

Mục tiêu của sự bôi nhọ, chế diễu, dựng chuyện của những người cầm bút loại này nhắm chủ yếu vào một CON NGƯỜI cụ thể- nhắm vào ông A, ông X… có tên, có tuổi. Họ dùng thứ bạo lực ngôn ngữ đủ loại, phủ nhận và chà đạp lên giá trị nhân phẩm người khác, coi thường người đọc.

Càng chửi thì như thời giá càng lên cao. Vì nó thỏa mãn được cái thị dục hay cái thú tính của con người. Điều đó cũng cắt nghĩa được tại sao cũng có một số người thích đọc họ. Nó như một thứ thủ dâm tinh thần, một thứ sa đích chữ nghĩa.

Phần người bị chửi trở thành người trước dư luận, trở thành bung xung lãnh thẹo của người chửi. Phản ứng của họ thường là ẩn nhẫn, chịu đựng, không lên tiếng. Người bị chửi “ngậm tăm”.

Một trong ba nguyên tắc để đạt được quyền lực mềm theo Joseph Nye là phải có văn hóa. Những người làm báo chửi cho thấy họ thiếu văn hóa hay cùng lắm họ chỉ đạt được thứ văn hóa chửi của một xã hội còn bán khai.

Văn hóa chửi phá hủy mọi mối tương giao con người trong xã hội và ở bình diện đức lý, nó thiếu đạo đức vì không tôn trọng nhân phẩm người khác… Vì thế nó là thứ văn hóa phi văn hóa, thiếu “tính người”. Con người trở thành chó sói của người, cô đơn và cô độc.

Tôi có một thách thức nhỏ với ông Tú Gàn là ông tập họp được một bữa ăn độ 20 người. Xem ra không dễ với ông.

Chỉ xin vắn tắt được trích dẫn một vài công đoạn chửi của người có tay nghề, chửi tắt tiếng như sau của ông Tú Gàn.

Chửi cả làng, cả xóm: Chửi những người chống cộng

Riêng người Việt lưu vong chỉ có một chiêu duy nhất là “đánh phèng la”. Nhưng tiếng phèng la của người Việt chống cộng lại quá nhỏ nên lúc nào cũng phải nhờ anh Hai (ám chỉ Mỹ) tiếp ứng.. Nhưng anh Hai thuộc loại “siêu cộng sản” nên thỉnh thoảng chơi đá giò lái những đòn rất đau khiến phong trào chống cộng của người Việt lưu vong cứ bị đẩy lui dần.
Đánh phá miệt thị cộng đồng

Giới dân gian ở Bolsa, nơi thủ đô của VNCH nối dài, thường gọi các chương trình nói chuyện về Việt Nam của các “bình luận gia ta” trên các đài truyền hình là “Chương trình Chúng nó sắp sụp đổ rồi”. Mỗi khi thấy chương trình đó, họ thường tắt máy. Được hỏi tại sao, họ cho biết không cần nghe cũng biết họ sắp nói gì rồi. Các ông ấy cứ lượm một số chuyện tiêu cực trên các báo Công An Nhân Dân, Lao Động, Tuổi Trẻ… ở trong nước đem ra đọc hay kể lại rồi nguyền rủa Cộng Sản và đi đến kết luận: “Chúng nó gian ác, chúng nó ngu dốt, chúng nó sai lầm, chúng nó tham nhũng, chúng nó bán nước, chúng nó thất bại, chúng nói sắp sụp đổ rồi!” Mấy ông ấy cứ nói và viết như thế đã 37 năm rồi mà có thấy gì đâu? Nếu Cộng Sản mà chỉ như thế, làm sao nó đã cai trị được 54 năm? (2)
Chửi cả nhóm, nhất là công giáo mà ông Tú gàn gọi xách mé là Giao Điểm công giáo.

Nhất là nhóm Giao điểm công giáo, nhất định bắt người khác phải làm theo họ và cho rằng ai không làm theo là “đồng lõa với tội ác” hay hèn nhát. Sau vụ cha Lý bị bịt miệng, số thầy giảng kinh Koran cho Hội đồng giám mục Việt Nam càng gia tăng.
Chưa đủ, còn hài tên từng người

Đó là các Thầy Trần Phong Vũ, thầy nguyễn Xuân Tùng, thầy Duyên Lãng Hà Tiến Nhất, thầy Trần Văn Cảo, thầy Nguyễn Tiến Cảnh vv..Tóm lại, nhóm Thầy giảng và nhóm Giao Điểm Công Giáo ở hải ngoại thiển cận, ngạo mạn và thích tác oai tác quái, đám này đã quậy phá giáo hội ở trong nước gấp trăm lần đám quốc doanh.” (3)
Bôi bẩn cá nhân linh mục Nguyễn văn Lý

Trong hồ sơ các giáo sĩ làm mật vụ cho Công An Cộng Sản ở Ba Lan, người ta khám phá ra Linh mục Hejmo Konrad Starslan có “hồ sơ hợp tác với mật vụ” dày đến 700 trang. Tôi tin rằng sau khi chế độ cộng sản Việt Nam sụp đổ, người ta sẽ khám phá ra “hồ sơ hợp tác” của Linh mục Lý cũng dày không thua gì Linh mục Starslan.Đừng vội tranh luận. Khi nào Cha Lý được nói chuyện bằng điện thoại trở lại, cứ hỏi ông ta tôi nói như vậy có đúng không. Tôi tin rằng ông ta không chối đâu.

Có lần báo cáo một linh mục xong, ông ta đến chỉ vào linh mục đó vào nói: “Khi nãy Cha có nói như vậy… Tôi đã báo cáo rồi!”

Linh mục Lý lại là người không bình thường, khi nắng khi mưa, sáng khác chiều khác. Với tình tình và óc phán đoán như thế mà được phong Phó Tế rồi Linh mục là một biệt lệ chưa từng có, nhưng chúng tôi chưa muốn tiết lộ. Công An thừa biết sẽ có một lúc họ không còn kiểm soát được hình thức tẩy chay và áp lực cần thiết khác. (4)

Đánh phá linh mục Nguyễn Văn Khải

Linh Mục Nguyễn Văn Khải là một Linh mục thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, bị triệu dụng qua Roma sau những biến động tại Hà Nội, đã đưa ra những lời tuyên bố về tình hình bi đát của Công Giáo Việt Nam như sau:

“Chính quyền sử dụng tất cả các lực lượng tùy ý họ, gồm các phương tiện truyền thông nhà nước, bộ máy chính trị, pháp luật và hệ thống giáo dục công cộng để ngăn chặn sự phát triển của Giáo Hội Công Giáo bằng mọi giá”.

“Người Công Giáo ở mọi miền của Việt Nam được xem là công dân hạng hai, bị phân biệt đối xử tồi tệ trong đối xử pháp lý”…

Hiện nay, LM Khải đang được đưa đi tố cộng tại nhiều nơi ở Mỹ, từ Boston tới Orange County. Ông được một số tổ chức chống cộng đón nhận khá nồng nhiệt.

Trước khi nói đến “sứ mạng” mà LM Nguyễn Văn Khải đang muốn thực hiện, chúng ta cần biết rõ LM Khải là ai và ông đã hành động hay tuyên bố những gì.

NHÌN LẠI CON ĐƯỜNG ĐÃ ĐI QUA

Trong bài “Rao giảng Tin Đồn” được phổ biến trên báo chí và hệ thống Internet ngày 20.7.2010, dưới tiểu đề “Vượt qua các đàn anh”, chúng tôi có viết vài hàng về LM Nguyễn Văn Khải như sau:

“Một giáo sĩ trẻ nhưng bạo mồn bạo miệng nhất ở Việt Nam hiện nay là LM Nguyễn Văn Khải thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà (DCCTTH). Nhiều nguồn tin nói rằng ông là người chủ trương website NVCL.

“DCCT Thái Hà được thành lập từ năm 1926 nhưng tiếng tăm của Dòng được thế giới biết đến kể từ năm 2008 khi Dòng và Giáo Xứ Thái Hà phát động chiến dịch đòi nhà cầm quyền trả lại các tài sản bị cưởng chiếm. Tiếp theo là chiến dịch của nhóm Nữ Vương Công Lý (NVCL) ở Thái Hà phát động để đòi giữ Đức TGM Ngô Quang Kiệt ở lại Hà Nội. Trong cả hai chiến dịch này, LM Nguyễn Văn Khải, một linh mục trẻ, người làng Phúc Nhạc, Ninh Bình, sinh ngày 5.10.1970, được phong linh mục ngày 25.9.2001, đã giữ vai trò “xung kích” rất táo bạo.

“Về “thành tích chống cộng”, nếu so với các đàn anh trong Dòng như các linh mục Nguyễn Văn Vàng, Trần Hữu Thanh, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan…. thì “thành tích” của LM Khải quá nhỏ bé. Còn nếu so với các giáo sĩ khác trong các vụ Vinh Sơn (Mặt Trận Phục Quốc), Việt Tiến, Mặt Trận Liên Tôn, Trung Tâm Đắc Lộ, Dòng Đông Công…, thành tích của LM Khải chỉ là con số không. Nhưng nếu xét về phương diện chống lại Giáo quyền thì LM Khải đứng hàng đầu!

“Trong lễ nhận chức của ĐGM Nguyễn Văn Nhơn, LM Khải là một trong những người hướng dẫn đoàn biểu tình chống Đức Cha Nhơn và ủng hộ Đức Cha Kiệt. Đoàn biểu tình có hai bà cầm sẵn hai cái khay đựng quà trải khăn đỏ, còn một đám giáo dân đi theo la inh ỏi: “Chúng con yêu mến Đức Tổng”. “Xin Đức Tổng ở lại với chúng con”. Trong khi đó LM Khải cầm máy chụp hình bấm liên tục.”(5)

Tiếp tục dựng chuyện để bôi nhọ LM Nguyễn Văn Khải

Trong năm qua, LM DCCT Nguyễn Văn Khải từ Roma qua Orange County nói về Cộng Sản. Ông là người tổ chức biểu tình chống việc Toà Thánh bổ nhiệm Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn làm TGM Hà Nội, bị Bề Trên Tổng Quyền triệu hồi qua Roma, ông phải vượt biên qua Lào rồi qua Thái Lan, từ đó được cấp giấy tờ đi Roma. Những điều ông nói về Cộng Sản đàn áp tôn giáo quá thô thiển. Nếu Cộng Sản mà vớ vẩn như thế làm sao họ “quốc doanh hoá” được cả Phật Giáo, Phật Giáo Hoà Hảo, Cao Đài và Tin Lành? Ông nói về “Linh mục chui” nghe cũng rất vớ vẩn, nó không gióng những gì chúng tôi đã đọc và nghe các thầy đang được huấn luyện làm “linh mục chui” bị bắt giam đã kể lại khi chúng tôi ở trại Thanh Cẩm. Thế nhưng kiểu phát sóng như vậy đã đi đúng vào tần số mà một số các ông các bà muốn nghe, nên LM Khải cũng kiếm được vài chục ngàn bỏ túi trước khi trở lại Roma.(6)
Tất cả những điều ông Tú Gàn viết ở trên không hẳn là sai hết. Cộng đồng có gấu ó, có chia rẽ, cá nhân có tranh quyền lực. Nghĩa là có cả, nhưng không thể biến tất cả thành phường chèo được. Người thiện chí có thừa, người tốt việc tốt không thiếu. Điều chính yếu là ông trình bày cái đúng cái sai đan xen vào nhau, nhiều điều thực hư, không trưng dẫn bằng cớ. Sự dựng chuyện của ông thật nham hiểm.

Trong trường hợp linh mục Nguyễn Văn Khải, không có vấn đề bề trên cả dòng Chúa Cứu thế triệu hồi linh mục Nguyễn Văn Khải sang Roma. Càng không có vấn đề linh mục Nguyễn Văn Khải ẵm mấy chục ngàn đô là về Roma. Tôi đã hỏi những người trong ban tổ chức đón tiếp linh mục Nguyễn Văn Khải về hai vấn đề trên.

Ông Tú Gàn hoàn toàn đựng đứng và bịa chuyện. Và không lẽ mỗi điều ông viết lại cứ phải đi chứng minh?

Về việc đựng đứng, bịa chuyện này, tôi chỉ nhắc ông Tú Gàn là ông chắc không thể nào quên được vụ Bùi Bỉnh Bân. Đừng để tôi phải lôi chuyện này ra.

Trong trường hợp này, ông đã để lộ ra là một người thiếu lương tri, thiếu đạo đức và thiếu một tấm lòng. Ông Tú Gàn tự biến mình thành một thứ đao phủ, có cái đầu, nhưng lại thiếu một trái tim.

2. Quyền lực mềm

Theo Joseph Nye, quyền lực mềm là thứ quyền lực có khả năng tiếp cận lôi cuốn và thuyết phục người khác. Nó thể hiện trong những mối liên hệ của đời sống cá nhân với cá nhân, trong hôn nhân và cuối cùng trong thương mại, chính trị.

Với quyền lực mềm, người ta có thể đi đến hòa giải, thương lượng thay vì đối đầu.

Nhà văn, nhà xử dụng quyền lực mềm là cùng lúc xử dụng trái tim và cái đầu và tiến thêm một bước cao hơn là xử dùng quyền lực thông minh. Đây là thứ quyền lực mà Nye dành riêng trong một cuốn sách nhan đề: The Future of Power. Đó là việc định hướng chính sách đường lối, nghiên cứu đánh giá, tìm ra hướng đi mà không có tham vọng bá quyền.

Dựa trên nguyên tắc của quyền lực mềm, ông Tú Gàn có thể điện thoại, mời những người không đồng chính kiến với nhau ra quán cà phê nói chuyện, hay mời nhau một bữa ăn và tranh luận ngang ngửa.
Không ông đã không làm như thế. Ông nấp ẩn trong cái ghét tô của ông và chĩa nòng súng ra khỏi lỗ châu mai nhằm bắn những người đáng nhẽ là bạn, ngay cả là đồng chí, nay trở thành kẻ thù.

Dĩ chí có gặp nhau trong quán phở, nơi công cộng thì ông cũng tránh mặt.

Sách báo trở thành bãi chiến trường nã súng vào nhau như quân thù, quân hằn.

Đó cũng là hình ảnh có thực ngoài đời đôi khi ta bắt gặp một ông Tú gàn gương mặt xám đen, đầu hói, dáng đi lệch vai như người bị khuyết tật.

Dáng đi ấy biểu hiện một con người cô đơn thui thủi một mình đến tội nghiệp Tôi còn nhớ ông đến tòa báo trong ngày đầu tuần lặng lẽ vào phòng bà quản lý lấy tiền hoặc cầm dăm tờ báo mới, cắp nách rồi ra về.

Không chào hỏi ai. Ông như một cái bóng ma giữa mọi. người.

Cuộc đời như thế có đáng sống hay không đáng sống? Nguồn vui ở chỗ nào? Hay chỉ trừ những lúc ông lên đồng với chữ nghĩa?

Đã từ lâu, cứ kể từ năm 2006 đến nay, những bài viết của Tú Gàn có một chủ trương khá rõ rệt là:

– Miệt thị tất cả những tổ chức, những sinh hoạt, những cá nhân nào đang tranh đấu cho tự do, dân chủ ở Hải ngoại.

– Mặt khác bôi xấu những nhân vật có uy tín trong nước, đặc biệt là các linh mục như LM Nguyễn Văn Lý, LM Phan Văn Lợi, LM nguyễn Văn khải.

Nhất là kể từ khi chia tay với báo Sài Gòn Nhỏ. ông không có đất để viết. Chắc hẳn là nỗi mất mát lớn, cộng thêm nỗi hận oán. Ông chỉ còn viết trên báo mạng.

Ngòi bút của ông càng cay độc hơn, phóng túng hơn. Giọng điệu, quan điểm chính trị của ông như có đổi chiều, có thỏa hiệp. Nhiều bài viết và nội dung, cách trình bày cho người ta có cảm tưởng ông là người phát ngônviên chính thức của chính quyền Hà Nội.

Một Tú Gàn không phải là một Tú Gàn như người nghĩ nữa.

Trước đây ông viết báo như người có cái đầu và không có trái tim. Nay cả tim lẫn đầu đều không có. Tội nghiệp cho môt kiếp người làm báo vào lúc cuối đời.

Theo © DCVOnline

TÚ GÀN LÀ AI ?


Dẫn nhập.



Vì sự thôi thúc của nhiều thân hữu muốn biết tại sao tôi không viết phản bác Tú Gàn những điều y viết sai như bịa đặt vô căn cứ hay xuyên tạc về tôi như :

– Lê Trọng Văn chưa bao giờ ở Việt Nam ?

– Sức học dưới Tiểu học. Nói tiếng Tây bồi.

– Tiếng Anh thì nói bằng tay chân và chỉ biết hai chữ: Yes – No.

Và còn nhiều điều nữa …



Sở dĩ tôi im lặng không phản bác vì chưa đến lúc. Giờ đây là lúc vạch bộ mặt thật của Tú Gàn cho bà con biết để y không còn cơ hội múa gậy vườn hoang. Vả chăng Tú Gàn chỉ là cái “thùng rỗng” khẽ đụng đã kêu to rồi !



Gần đây, vì không có ai thuê viết nên Tú Gàn mở một trang nhà có tên là “Một Góc Trởi” với nhiều bài viết không có gì mới lạ, quanh đi quẫn lại nhắc lại chuyện ai chủ mưu giết hai anh em ông Diệm, các tướng phản chủ, và những bài viết viết theo cảm tính, thìếu nghiên cứu nhưng lại tỏ ra ta đây là nhà “lý luận học”, không ai bằng ta ?



Có nhiều người chưa biết Tú Gàn là ai, là người như thế nào … ? Tiện đây, tôi xin giới thiệu về Tú Gàn luôn thể …. :



Tú Gàn tên thật Nguyễn Cần aka Lữ giang, quê ở Bố Trạch, Quảng-Bình, di cư vào Nam năm 1954 học luật và làm thẩm phán. Nguyễn Cần là một con chiên thuần thành của đạo Gia-Tô, tin bà Maria hãy còn đồng trinh, và Tú Gàn là một người xem nhà Ngô như thần thánh. Tú Gàn tuy có học nhưng không có hạnh. Không biết ngày xưa ngồi xử án như thế nào? Nhưng bằng vào nhân cách thì thấy: “Tú Gàn là người không tử tế”!

Có điều đáng khen, Tú Gàn có cách viết quỷ quyệt. Dưới ngòi bút của Tú Gàn tất cả những anh hùng chống Cộng tại hải ngoại đều nát như tương. Từ tướng tá cho đến sư sải và cả linh mục, giám mục … Yêu ai thì Tú Gàn viết khen lên tận mây xanh, mà ghét ai thì Tú Gàn đạp xuống bùn đen bằng cách viết đổi trắng thay đen; không nói thành có, có nói thành không …

Nhờ những năm núp bóng mụ Đào Nương, Tú Gàn múa bút tiền hậu bất nhất để tuyên truyền lừa bịp những người nhẹ dạ. Đặc biệt vụ đảo chánh giết hai anh em ông Diệm của các tưóng lãnh miền Nam với bài viết: “Những giờ định mệnh” với câu thòng: “Các tài liệu phát hiện gần đây cho thấy …”. Với bản tính khoác lác, Tú Gàn thường khoe mình biết hơn cả tài liệu của Mỹ được lưu giữ. Tài liệu về việc ai đứng đằng sau vụ giết hai ông Diệm, Nhu. Cộng thêm tính lẽo mép, Tú Gàn thường tỏ ra ta đây cái gì cũng biết và muốn làm “thầy đời”, Tú Gàn biết trước những gì VC dự tính như có phép thần thông biến mình thành “con rệp” chui vào tập hồ sơ “TỐI MẬT” của Tình báo VC để đọc được tất cả những điều Tối mật?



Ở nước ngoài hàng năm cứ đến tháng 11 là nhóm Cần Lao và bầy tôi cũ của ông Diệm lại bầy trò làm lễ tưởng niệm và cầu hồn cho cố tổng thống Ngô Đình Diệm gồm có: Cao Xuân Vỹ, Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Kim Khánh, Nguyễn Cần, Nguyễn Lý Tưởng, Nguyễn Hữu Công, Tôn Thất Thiện, Vũ Quang Ninh …

Nhưng riêng Tú Gàn suốt hơn 30 năm bỏ nước ra đi, năm nào Tú Gàn cũng nhai đi, nhai lại việc đảo chính chế độ Diệm và một mực bênh ông Diệm là tổng thống anh minh nhất châu Á. Thuyết Cần Lao Nhân Vị rất đổi lấy vị tha làm đầu. Trên đời này không có thuyết nào bằng. Rồi không quên nhục mạ các tướng lãnh là bầy chó phản chủ ….

Đặc biệt hơn nữa, Tú Gàn mang ra phân tích bọn Mỹ là quân phản bội, hết phản bội ông Diệm lại đến phản bội đồng minh VNCH. Tú Gàn chỉ biết khoe khoang ta đây, nói thánh nói tướng chứ thật ra không biết suy tư, không biết lý giải sự việc một cách logic? Tú Gàn có biết đâu rằng trên thế giới nầy Mỹ chỉ có một đồng minh duy nhất; đó là Anh quốc, ngoài ra không có một nước nào khác là đồng ninh của Mỹ ?



1- Tú Gàn xuyên tạc cố Thiếu tướng Đỗ Mậu.



Nhằm dịp này, Tú Gàn/Nguyễn Cần lại lợi dụng có trong tay tờ Sàigòn Nhỏ, Tú Gàn viết trả thù những người viết sách có liên quan đến lịch sử trong đó nói về những việc làm sai trái của chế độ Ngô Đình Diệm. Những người nổ phát súng đầu tiên đánh đổ thần tượng Ngô Đình Diệm của người Gia-Tô (nhất là thiếu tướng Đỗ Mậu với quyển “VIỆT-NAM Máu Lửa Quê Hương Tôi” rồi đến Cửu-Long Lê Trọng Văn với quyển “Những Bí Ẩn Lịch Sử Dưói Chế Độ Ngô Đình Diệm”. Vì vậy mà Tú Gàn/Nguyễn Cần nuôi lòng căm thù, hễ có cơ hội là Tú Gàn viết chửi bới và xuyên tạc cựu tướng Đỗ Mậu đủ điều …

Trong mấy số báo liền, nhân vật được y quan tâm nhất là thiếu tướng Đỗ Mậu. Điểm chính y gán cho thiếu tướng Mậu là đã nhục mạ quân đội VNCH vì trong cuốn Tâm Thư, thiếu tướng Mậu đã đề cập đến cuộc hành quân do tướng Đỗ Cao Trí chỉ huy ở Cao Miên đã để cho binh sĩ dưới quyền cướp xe hơi của người Miên, ăn cắp tượng Phật bằng vàng trong các chùa …

Tướng Mậu cũng nhắc lại vụ một ông tướng Tư Lệnh Quân Đoàn bắt con gái nhà lành về hãm hiếp và tham nhũng tạo ra cái chết của tướng Tư Lệnh Phó.

Tướng Mậu cũng nhắc lại vụ đoàn quân rút lui khỏi Cao Nguyên, khi đi qua các thành phố Tuy Hoà, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết bắn phá nhà cửa thường dân v.v…

Tất cả các sự việc nói trên đều đã xẩy ra, những người trong cuộc và dân chúng địa phương đều biết cả. Báo chí Sàigòn theo đó đều đăng tải. Vụ đội quân tướng Trí đánh cướp ở Cao Miên báo cũng có đăng. Nhưng Tú Gàn cho là tướng Mậu xuyên tạc để nhục mạ quân đội VNCH.

Thật ra, tướng Mậu mới kể vài vụ tiêu biểu, còn nếu kể hết những vụ các tướng tá làm nhục quân đội thì phải viết cả một quyển sách. Dưới đây là một số vụ điển hình :

Trên mặt báo và trong cuốn Hồi ký “Một Trời Tâm Sự” tướng Nguyễn Chánh Thi đã tố cáo nhiều tướng lãnh buôn thuốc phiện lậu mà hai ông tướng Quân Đoàn là Ngô Du và Nguyễn Hữu Có.

Trên tờ Hồn Việt xuân Kỵ Tị (1988) ông Phụng Hồng, cựu trung tá Quân Y có viết một hồi ký “Những Sự Thật Đau Lòng”có thể nói đây là một bản án kết vô số tội lỗi của một số tướng VNCH, đặc biệt là tướng Thiệu, tướng Kỳ và tướng Có đều là những tên đầu trộm đuôi cướp, kết tội quân nhân Công giáo đàn áp quân nhân Phật giáo Viện Hoá Đạo mà ông Phụng Hồng cho là “Cốt nhục tương tàn”, quân ở ngoài đã bắn vào chùa như mưa và ông Kỳ hứa sẽ cho tiền họ khi dẹp xong “Bọn Phật giáo Ần Quang”.

Phụng Hồng còn nghe một sĩ quan Không quân Mỹ miả mai tướng tá quân đội VNCH làm cho y ngao ngán: ”Các anh cứ tổ chức hội họp hoài thì không đi đến đâu cả…”. Ở Việt Nam những con người đó (ý ông Đại tá Mỹ muốn ám chỉ mấy ông tướng miền Nam lưu vong” có đầy đủ uy quyền, sức mạnh quân đội với máy bay, xe tăng, đại bác mà họ không làm gì được cho đất nưóc mình, giờ chót họ còn năn nỉ chúng tôi giúp họ chạy cho mau thì thử hỏi ngày nay họ sẽ làm được gì ?

Phụng Hồng còn kể khi còn ở trại cải tạo Long Thành được nghe cụ Nguyễn Văn D, thân phụ thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu cho biết: “Chính thằng NVT bắn nó (tướng Hiếu) chứ ai vô đó”. (Câu chuyện nầy tướng Mậu có kể lại một phần trong cuốn Tâm-Thư mà Tú Gàn cho là tướng Mậu xuyên tạc làm nhục quân đội VNCH).

Trong Phụ nữ Diễn Đàn, số 111 năm 1995 ông Giao-Khôi kể lại vụ tổng thống Diệm tham nhũng trên 40 triệu giao cho cha Toán Dòng Chúa Cứu Thế cất giữ trong phòng riêng của Cha. Khi ông Hoàng Bá Vinh hỏi tại sao Cha lại đưa số tiền đó cho Dương Văn Minh thì Cha Toán trả lời bằng tiếng La-Tinh “Của César trả lại cho César”, nghĩa là của phi nghĩa trả lại cho phi nghĩa. Tống thống Ngô Đình Diệm là lãnh tụ chính trị của khối công giáo Việt Nam, ông cũng là Tổng Tư Lệnh Quân Đội nữa Tú Gàn ạ ? Câu chuyện này chẳng những làm nhục quân đội mà làm nhục quốc gia chống Cộng của ông Tú Gàn và những đồng đạo của ông; Tú Gàn có thấy thế không?

Cũng như trong một bức thư của ông Trần Ngọc Lý gửi cho nhà viết sử Hứa Hoành một tín đồ Thiên Chúa giáo, tổng thống Diệm đã lấy tiền viện trợ Mỹ giúp cho Đức Cha Thục xây dựng những cơ sở cho giáo phận Vĩnh Long và việc Đức Cha Thục lợi dụng người em làm tổng thống đã làm tiền bằng mọi cách mà không biết nhục, từ việc bắt quân đội canh gác để cho người của Đức Cha làm gỗ đến việc lợi dụng lễ Ngân Khánh để làm tiền từ Phó tổng thống xuống đến các Trưởng Ty, sĩ quan cấp úy, gian thương Ba Tàu (báo Tia Sáng- Houston).

Chắc ông Tú Gàn biết rõ hơn ai hết rằng Đức Cha Thục là anh ruột của tổng thống Diệm mà tổng thống Diệm là Tổng Tư Lệnh Quân Đội. Vậy ông Tú Gàn có thấy không anh em ông Diệm đã làm nhục quân đội mà cũng làm nhục quốc gia và trong đó có cả Giáo hội Thiên Chúa giáo La-Mã mà Tú Gàn là một tín đồ si mê, cuồng tín?

Vẫn chưa hết, Tú Gàn hãy tìm đọc báo cũ “Phụ Nữ Diễn Đàn” bài viết của Chữ Bá Anh về vụ “Còi hụ Long An”, vụ buôn lậu nổi tiếng mà hàng lậu chở bằng cà chục xe nhà binh tủ Mỹ Tho về Biên Hoà.Vụ buôn lậu này của nhiều ông bà tướng, nhiều sĩ quan Bộ binh, Hải quân, Quân cảnh đều có dính vào. Tú Gàn hãy đọc để xem có nhục cho quân đội hay không ?

Còn nữa …, Tú Gàn hãy tìm đọc cuốn “The Politics of Heroin in South East Asia” của Alfred Mc. Coy để xem Ngô Đình Nhu, Trần Kim Tuyến đã dùng quân đội, dùng phi cơ không quân Việt Nam, dùng nhân viên sở Mật-Vụ đi buôn thuốc phiện trên Lào chở về Việt Nam như thế có nhục không Tú Gàn ?



Tú Gàn hãy đọc “Vê Vùng Giới Tuyến” của Lê Xuân Nhuận, một cấp chỉ huy Công An Trung phần để thấy Ngô Đình Cẩn là em của tổng thống Diệm với chức vụ cố vấn mà dân chúng miền Trung sợ như sợ cọp nên họ gọi Cẩn là “Lãnh chúa miền Trung”. Việc quốc gia đại sự mà Cẩn xem như việc nhà, việc riêng; tất cả các tướng tá, các tỉnh trưởng … Cẩn xem như tôi tớ trong nhà. Các ông lớn thường đến đứng trước sân dinh thự Phú-Cam chầu hầu để được Cẩn gọi vào sai khiến. Mặt khác, Cẩn dùng bàn tay sắt để cai trị dân và làm giàu trên xương máu của dân như bắt chủ khách sạn Morin là ông Yên tra tấn đến chết rồi bắt bà Yên hãm hiếp …



Tú Gàn hãy đọc “Decent Interval” của Frank Snapp để thấy Nguyễn Văn Thiệu vừa là Trung tướng, vừa là Tổng Tư Lệnh và Trần Thiện Khiêm vừa là Đại tướng, vừa là Thủ tướng chính phủ để biết Thiệu và Khiêm đã nhờ CIA chở ra sân bay để trốn ra nước ngoài trong lúc binh sĩ vẫn tiếp tục chiến đấu.



Tú Gàn sao không tìm đọc “Công và Tội”, hồi ký của cựu tỉnh trưởng Nguyễn Trân để biết Nguyễn Trân đã nặng lời với tất cả người trong gia đình nhà Ngô, kể cả mụ Luyến nữa để Tú Gàn thấy cái nhục của quốc gia, của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Nguyễn Trân vừa là đồng đạo, vừa là người được nhà Ngô tin cẩn.

Ngay cả người bạn thân của Tú Gàn và là đồng đạo của Tú Gàn là Đại tá Trần Khắc Kính đã viết nhiều bài báo chê bai tướng tá quân lực VNCH, đặc biệt là bài “Biến cố 11/11/1960” kể việc thiếu tá Soạn, Tiểu đoàn trưỏng Dù với lời lẽ chợ búa của dân đứng bến. Kính tả cảnh Soạn cho lính bắt gái tơ về cho y hãm hiếp; ai đọc đến cũng lấy làm ghê tởm. Tại sao Tú Gàn không chỉ trích Trần Khắc Kính, Nguyễn Trân đã nhục mạ quân đội, đã nhục mạ nhà Ngô … hay vì họ là những đồng đạo của Tú Gàn nên Tú Gàn không dám động đến?

Còn Tú Gàn thì sao? Tú Gàn đã viết rất nhiều bài trên tờ Saigon Nhỏ để làm nhục tướng Phú và bà Phú. Tú Gàn gán cho vợ chồng tướng Phú là tham nhũng và vô số tội khác như đã để mất Cao nguyên, vì sợ tội nên đã trốn vào bệnh viện Grall để tụ tử. Nhưng sự thật vì ông Thiệu đã ra lệnh rút Cao nguyên quá sớm (lẽ ra không nên rút), vì quá uất ức nên tướng Phú tự tử. Đó là thái độ của một vị tướng có khí phách; lẽ ra Tú Gàn nên tôn vinh mới đúng.

Những bài viết của Trần Khắc Kính và của Tú Gàn viết nhục mạ tướng Phú đã bị rất nhiều bài báo của các sĩ quan lên án. Tại sao Tú Gàn không nghĩ đến lương tâm của một người cầm bút lương thiện? Lại chỉ lo xuyên tạc những người viết sách nói lên sự thật của chế độ Ngô Đình Diệm như tướng Đỗ Mậu, Lê Trọng Văn ,Trần Văn Kha v.v.

Được biết Trần Khắc Kính lúc còn ở trại cải tạo đã bị nhiều trại viên đánh vì cái tính kiêu căng và tự phụ của y. Người em ruột của y cũng là một sĩ quan cũng không chịu được bản tính tráo trở của y nên anh em thường hay cãi nhau đi đến ấu đả. Việc này có hai sĩ quan H.O là Chu Văn Trung và Lê Nguyên Thê cùng bị giam với Kính cho biết. Trần Khắc Kính viết bài “Biến Cố 11/11/60” là do Tú Gàn xúi giục trong một bửa ăn ở một tiệm ăn của vợ Kính ở Santa Ana có hai sĩ quan khác cùng dự, họ được nghe Tú Gàn xúi Kính viết đánh Đỗ Mậu.

Tội ác mà Tú Gàn đã gây ra là viết bôi bác Phật giáo trong cuốn “Những Bí Ẩn Đằng Sau các cuộc Thánh Chiến tại Việt Nam”. Phật giáo ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, nhất là ở Việt Nam tử cổ chí kim làm gì có Thánh Chiến? Nói đến Thánh Chiến thì ai ai cũng đều biết là nói đến đạo Gia Tô La Mã ! Nhưng Tú Gàn đâu có tôn trọng sự thật, lại bất chấp việc nghiên cứu lịch sử mà chỉ viết theo cảm tính của cá nhân mình. Những lởi lẽ của Thầy Tâm Châu chỉ trích Ấn Quang vì cá nhân. Trái lại, theo tuần báo Time cho rằng Thầy Tâm Châu đã nhận tiền của Nguyễn Cao Kỳ rồi ngã theo phe quân phiệt chống lại Ấn Quang …

Các bài viết xuyên tạc các nhà sư Phật giáo và tướng Mậu trên tờ Saigon Nhỏ không thấy Tú Gàn nêu các vấn đề sai lầm hay tội ác của Thiên Chúa giáo La-Mã ra mà phê bình chẳng hạn như tướng Mậu đề cập đến những sai lầm của Thánh Kinh; bà Maria đã có con chứ không phải đồng trinh và vấn đề các giáo hoàng dâm loạn.

Tú Gàn chỉ vạch lá tìm sâu hay viết bôi bẩn cá nhân mà không đưa ra bằng chứng cụ thể. Tú Gàn chê tướng Mậu mới học đến Tiểu học, thi rớt Tiểu học nhiều lần; nhưng Tú Gàn có biết đâu rằng tướng Mậu đã có bằng và tự học và tự tìm hiểu bằng cách đọc sách. Cũng như ông Trần Sử anh ông Trần Quế, một người Huế chỉ học đến Tiểu học mà đã là người viết “diễn văn” bằng tiếng Pháp cho tổng thống Ngô Đình Diệm.

Tú Gàn chê tướng Mậu là lính khố xanh, nhưng Tú Gàn đã quên mất một điều chú ruột của Tú Gàn là Nguyễn Trâm cũng là “đội khố đỏ”. Cứ hỏi dân Quảng Bình ở hải ngoại xem có phải năm 1947 khi Pháp mới đổ bộ trở lại Đồng-Hới; đội khố đỏ Nguyễn Trâm đã lập đội Partisan ở Kẻ Bàng, quê hương của chú cháu Nguyễn Trâm và Nguyễn Cẩn để theo lính Pháp đi ruồng bố để sát hại đồng bào? Có phải khi có đội Việt Binh Đoàn của Phan Văn Giáo, Nguyễn Trâm đã làm đồn trưởng ở Kẻ Bàng – Hoàn Lão (Bố Trạch) hay không?

Cũng như Nguyễn Cần (Tú Gàn), Nguyễn Văn Chức cũng chê bai Đỗ Mậu là “lính khố xanh” mà quên sờ gáy mình để nhớ rằng cha vợ của mình là một tên lính giản của Nam triều đã theo hầu thượng thư Bùi Bằng Đoàn, sau gia nhập Cần Lao theo hầu Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Diệm và nhờ đó Đinh Xuân Minh mới được cho làm bác sĩ riêng và Nguyễn Văn Chức mới được chân Dân biểu nửa mùa.

Nhân nói đến Nguyễn Cần, Nguyễn Văn Chức chuyên xuyên tạc Phật giáo đã tỏ ra căm thù những người viết sách, viết bài đả kích những sai trái của Thánh Kinh, của các giáo hoàng … như Đỗ Mậu, Lê Trọng Văn, Chu Văn Trình, Trần Văn Kha … thì bị đồng bọn của Cần, Chức tìm cách khủng bố tinh thần …

Tại Pháp, chúng lợi dụng lúc vợ chồng cựu giáo sư Nguyễn Phú Thứ vắng nhà, chúng đột nhập vào nhà và mang các sách của những ngưởi nói trên là tác giả xé nát rồi viết lời đe doạ nếu tiêp tục chống tổng thống anh minh nữa thì sẽ biết tay?

Tại London, bác sĩ NXH cũng bị chúng gởi lời hăm doạ kèm theo ảnh của Trần Văn Kha, Lê Trọng Văn và bác sĩ NXH với hình những cái hòm có hàm ý là sẽ giết những người nầy.

Qua những sự việc đó cũng như qua hai nghìn năm có mặt của đạo Gia-Tô La Mã ở Việt Nam đã chứng tỏ họ sử dụng bạo lực để hèn hạ trả thù những ai không chấp nhận cái nền đạo tàn ác, bịp bợm đó.



Sàigòn Nhỏ, ngày 06/12/1996 trong bài viết: “Lên Án Cái Gì?” Tú Gàn viết: “Tú Gàn nhận được một văn kiện đã hơn một tháng nay, nhưng vì đất nước Bolsa của người Việt tị nạn có qúa nhiều chuyện vui nên chưa có thì giờ tham gia ý kiến được. “vì tinh thần đạo đức và lý tưởng quốc gia dân tộc”. Tú Gàn muốn xin qúy vị quan chức trong các lực lượng của nước Việt Nam Cộng Hoà nối dài cho Tú Gàn biết qúy vị đã lên án ai và lên án cái gì vậy?

Cuốn Tâm Thư do Đỗ Mậu đứng tên được bà Hoàng Đỗ, vợ của Nguyên Vũ túc Vũ Ngự Chiêu phát hành tại Houston từ giữa năm 1995 đến nay đã hơn một năm, trong đó có những bài xuyên tạc và lên án quân lực VNCH rất nặng. Báo chí đã viết khá nhiều về cuốn sách này. Tại sao lúc cuốn sách mới phát hành, Liên hội cựu QLVNCH và Cựu Tù Nhân Chính trị không lên tiếng ngay mà phải đợi hôm nay mới lên tiếng? Phải chăng qúy vị đã thực hành câu : “ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”, đợi xem nhóm Đỗ Mậu – Lê Trọng Văn và tổ chức đứng đằng sau có phản ứng gì không mới hành động? Giả thiết một nhóm nhân danh Giáo hội Phật giáo Ấn Quang phản ứng lại, qúy vị có hành động không? Hay sẽ “ngậm miệng cầu an”. Hay qúy vị đã không quan tâm gì đến nội dung cuốn sách này vì muốn bênh vực cho cựu tướng Phạm Văn Phú, một tướng đã “có công” đưa VNCH đến chỗ tiêu vong, qúy vị đã kéo cuốn Tâm Thư của Đỗ Mậu vô làm cái bung xung để che đậy cho ý định đó ….

Câu trả lời không khó khăn. Trong suốt 10 năm qua, nhóm đứng đằng sau lưng Đỗ Mậu và Lệ Trọng Văn đã tung ra rất nhều bài đã đăng lên báo chí và có ra những cuốn sách xuyên tạc nhằm mục đích đi đến kết luận rằng cuộc chiến tranh đã diễn ra trong 30 năm trên đất Việt chỉ là một cuộc chiến tranh của Thiên Chúa giáo và Cộng Sản, chứ không phải cuộc chiến tranh Quốc-Cộng?



Vua Hùng dựng nước – Chúng ta cứu nước !

Câu nói trên đây không được đúng cho lắm. Thật ra là: “Các vua Hùng dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Câu nầy cụ Hồ nói với Đại Đoàn quân Tiên Phong trước đến Hùng ngày 18/09/1954 (xem Văn Hoá Văn-Lang – Hướng về đất Tổ Hùng Vương).



Cũng năm 1954, lúc mới lên cầm quyền Ngô Đình Diệm cho dựng lên tượng bà Maria trước nhà thờ Nhà Nước (sau gọi là Nhà Thờ Đức Bà). Pho tượng bà Maria được đặt làm đặc biệt tại Roma. Theo tiến sĩ Nguyễn Xuân Hạnh: ”Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam” thì dưới thời Pháp thuộc đường chính của Sàigòn là đường Catinat (sau đổi ra đường Tự Do). Đầu đường ấy thực dân Pháp dựng một ngôi nhà thờ gọi là nhà thờ Nhà Nước. Nhà thờ lớn nầy cùng với đường Catinat cũng tương tự như Khải hoàn môn (Arc Triomphe) so với đại lộ Champ Elysée của Paris.

Báo Sống của nhà văn Chu Tử có đăng chuyện một giáo-sư Đại học có lần được ông Diệm gọi vào có việc, nhân tiện ông có đề nghị với tổng thống Diệm xin xây cho miền Nam một để thờ quốc tổ Hùng Vương, nhưng ông Diệm trả lởi: “Tổ anh chứ không phải tổ tôi”.

Chỗ ông Diệm đặt tượng bà Maria bây giờ, hồi trước là bức tụợng đồng Pingeau de Béhaìne tay giắt Hoàng tử Cảnh. Nhưng đến mùa Thu 1946 khi Nam Bộ chuyển mình làm cách mạng thỉ dân chúng tự động phá hủy tượng, lấy đồng đúc đạn, Vì vậy, ông Diệm thay vào chỗ ấy bằng tượng Maria. Và nhà thờ Nhà Nước đó đổi tên gọi là nhà thờ Đức Bà. Như vậy cho chúng ta thấy rõ ràng tính chất vong bản, vọng ngoại của ông Diệm, ông không biết gì đến quốc tổ Hùng Vương?



Tú Gàn là một nhà cách mạng ?

Ông Nguyễn Cần/Tú Gàn thường nói đến cách mạng. Nếu ông lấy tư cách là một giáo dân để theo phe Thiên Chúa giáo thì tôi cũng chỉ liệt ông vào hạng mù quáng, cuồng tín, lang bang … Còn nếu ông muốn hoạt động chính trị hay làm cách mạng để cứu nước, giúp dân mà hoạt động trong nhóm bị nhân dân Việt Nam thù ghét thì tôi chê ông là người vừa yếu, vừa thiếu kiến thức lại vừa không thức thời?

Vì trước hết ông không biết cái tên của những giáo dân Việt Nam đã theo Tây là tay sai giết hại đồng bào như những Ngô Đình Khả, Lê Hoan, Trần Lục … ngoài Bắc. Còn ở trong Nam có Huyện Sĩ, Trần Bá Lộc … là những cái tên tiêu biều đã làm đau khổ cho Dân Tộc.

Ông theo đạo Gia-Tô để làm cách mạng mà ông không biết Giáo hội Gia-Tô La-Mã là một tổ chức chính trị đội lốt tôn giáo đã làm đau khổ cho nhân loại gần 2.000 năm qua.

Hơn nữa, ông không thức thời vì cái tổ chức mệnh danh là Thiên Chúa giáo ấy đang trên đà suy sụp. Người có tâm huyết, có ai theo giặc để làm cách mạng bao giờ ?

Tội ác của Gia-Tô La-Mã đã làm dân Việt Nam đau khổ như thế nào? Đã biến dân Việt Nam thành trâu ngựa như thế nào ? Đã muốn đồng hoá nước Việt thành thuộc địa của Pháp trong nước Chúa như thế nào?



Tôi đề nghị, Tú Gàn nên đọc các sách về lịch sử của những sử gia chân chính như quyển: “Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam” (1858 – 1897) của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thọ. Tác phẩm đó đã được học giả Hoàng Xuân Hãn nhận xét :

“Công tác rất có giá trị, quả là độc đáo hơn các công trình nghiên cứu của các sử gia khác”.

Tú Gàn sẽ có đủ tài liệu để nắm vững tội ác của đạo Thiên Chúa tại Việt Nam – Chưa kể tội ác của gia đình Ngô Đình Diệm và Đảng Công giáo Cân Lao.



2- Tú Gàn ghét cay, ghét đắng Lê Trọng Văn.



Lê Trọng Văn là tác giả của nhiều quyển sách như: “Những Bí Ẩn Lịch Sử Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm”, “Lột Mặt Nạ những con Thò Lò Chính Trị”, “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng hay đến Bờ ẢoVọng”, “Việt Nam: Những Sự Kiện Lịch Sử của thé kỳ 20”, “Tuyển Tập Pétrus Ký”… Ngoài ra, tôi còn cho in và xuất bản quyển “Tây Dương Ga Tô Bí Lục”. Quyển sách này gây phản ứng sôi nỗi trong giới Gia Tô trong nước và ngoài nước.

Những quyển sách do tôi viết không ít thì nhiều đã đạp đổ thần tượng Ngô Đình Diệm của Tú Gàn và phê bình đạo Gia-Tô. Cho nên Lê Trọng Văn trở thành đối tượng của những người Gia Tô cuồng tín, cực đoan như Nguyễn Cần tự Tú Gàn. Lợi dụng có tờ Sàigòn Nhỏ trong tay, Nguyễn Cần/Tú Gàn tha hồ tô vẽ, viết bậy, bôi nhọ và nói xấu Lê Trọng Văn đủ điểu. Nhưng những điều đó chỉ là những điều “phịa” theo ý riêng của Tú Gàn, không đúng với sự thật một chút nào?



Để qúy vị và các bạn dễ dàng phân biệt, từ đây, phần nào của chúng tôi viết sẽ viết “chữ đứng”. Phần nào của Tú Gàn viết, chúng tôi sẽ viết “chữ nằm” [chữ nghiêng].



Trong mục “Viết Mà Chơi” do Tú Gàn phụ trách trong tờ lá cải “Saigon Nhỏ” ra ngày 25/10/1996 người ta thấy Tú Gàn viết bất nhất về lý lịch của Lê Trọng Văn. Không những vậy, Tú gàn còn giở trò “lố bịch” mang cả gia đình của LTV ra diễu cợt :



Thật sự, Lê Trọng Văn là ai? Hồ sơ tình báo của VNCH cho biết Lê Trọng Văn tên thật là Nguyễn Văn Thông, con ông Nguyễn Văn Hộ, thường được gọi là Sáu Hộ… . Ông Hộ có 3 người con: Nguyễn Văn Thông tức Lê Trọng Văn, Nguyễn Văn Thái và Nguyễn Văn Thăm. Năm 1945 khi Việt Minh lên cướp chính quyền, đa số Việt Kiều ở Lào đều theo Việt Minh. Năm 1946, Pháp chiếm Đông Dương, những người theo Việt Minh ở Lào bị Pháp bố ráp phải vượt sông Mé kông qua Thái, trong đó có 4 cha con ông Hộ. Lúc đó Nguyễn Văn Thông mới có 11 tuồi (Thông sinh năm 1935).



Động một chút là Tú Gàn mang “con ngoáo ộp Tình Báo VNCH” ra hù dọa thiên hạ và đe Lê Trọng Văn. Cũng vì vậy mà trong những bài viết của Tú Gàn về Lê Trọng Văn, đoạn nào Tú Gàn cũng có câu thòng “Căn cứ vào hồ sơ Tình Báo của VNCH”. Thật ra, chỉ có nhũng người dân lành bị bắt oan, bị tra khảo đánh đập mới sợ Công An và Tình Báo VNCH. Vì chế độ độc tài, gia đình trị Ngô Đình Diệm không kể gì đến nhân quyền hay mạng sống con Người, trái với những điều quảng cáo đường lối Nhân Vị, Vị Tha?

Trước năm 1975 khi còn ở Việt Nam, Tú Gàn làm thẩm phán của một tỉnh lẽ miền Trung, Tú Gàn lấy quyền gì mà xem được tài liệu của sở Tình Báo? Phần khác, giả dụ Tú Gàn nhờ cậy được một người nào đó xem dùm thì hồi đó Tú Gàn đâu đã biết Lê Trọng Văn là ai đâu ? Lúc đó, thuê kẹo, chả có ai ở Trung Ương Tình Báo kể cả người trưởng sở cũng không dám đụng đến Lê Trọng Văn? Sau tháng 4 năm 1975, VC đã tiếp thu tất cả những giấy tờ công văn, tài liệu hồ sơ của Tình báo VNCH, và rằng lúc sau đó Tú Gàn bị đi học tập, là một tên tù đói rách … Tôi nghe nói Tú Gàn bị VC bắt tôi ngỡ ngàng hết sức ! Qúy vị và các bạn có biết vì sao không? Vì Tú Gàn thường hay khoe khoang là y có thể tiên đoán biết trước VC sẽ làm những gì trong tương lai. Nhưng không ngờ Tú Gàn chỉ được tài nói phét thì không ai bằng?



Sau khi được VC trả tự do, được qua Mỹ theo diện H.O lo kiếm sống cho đầy đủ còn khó khăn. Với lại ở xứ Cờ-Hoa này chỉ có hồ sơ của FBI thôi ! Đào đâu ra hồ sơ của Tình báo VNCH để cho Tú Gàn đưa ra ”loè” thiên hạ?

Qua Mỹ thì tuổi cũng đã về chiều, Tú Gàn ngoài lãnh tiền già ra, không có nguồn lợi nào khác? May mà được mụ Đào Nương, chủ tờ Saigon Nhỏ tuyển dụng cho vào làm việc thì lúc đó cuộc đời của Tú Gàn mới lên hương đôi chút và kể từ buổi đó Tú gàn cũng có phương tiện để trả thù những ai Tú Gàn không thích !

Nhiều người, nhất là chị em phụ nữ rất lấy làm lạ, họ kháo với nhau rằng: “Không hiểu con Hoàng Dược Thảo ăn phải cái bã gì hay bị thư ngãi, bỏ bùa mà nó chứa chấp cái thằng đầu hói Tú Gàn những mấy năm trời”? Theo chỗ chúng tôi biết thì mụ Đào Nương thiếu gì đàn ông theo kè kè; Tú Gàn người không ra người, ngợm không ra ngợm; đàn bà nạ dòng rách nát cũng chẳng ma nào để ý đến? Huống hồ gì mụ Đào Nương, ít ra, chưng diện vào mụ ta vẫn còn trông được và không gì cũng là chủ báo, không thơm được như múi mít thì ít ra cũng có tiền tháng tháng rủng rỉnh gửi Ngân hàng. Chẳng qua mụ ta thuê Tú Gàn vào là có mục đích riêng đặc biệt. Vì theo tâm lý người đời mà nói thì ở thời nào cũng có nhiều người thích nghe thiên hạ chửi nhau. Vì vậy mà mụ Đào Nương biết ngõ ngách đó nên ra “báo chửi” đế bán. Hơn nữa, không ai ở Little Saigon đã có tính gàn lại còn chửi giỏi hơn Tú Gàn? Đó là nghề của chàng mà !



Tú Gàn đã viết lếu láo, không biết một chút mảy may gì về lý lịch và gia cảnh của Lê Trọng Văn. Vì trong gia đình Lê Trọng Văn không có ai mang họ Nguyễn và cũng không có ai có các tên : Thái, tên Thăm … Thực ra, anh chị em chúng tôi có 7 người; gồm 5 gái, 2 trai. Trái lại, Tú Gàn viết là ông Hộ có ba người con trai: Nguyễn Văn Thông tức Lê Trọng Văn, Nguyễn Văn Thái và nguyễn Văn Thăm ….

Tú Gàn là người có tài “phịa” rất hay, những người nhẹ dạ cả tin thường nghĩ rằng Tú Gàn biết nhiều vì y học luật và một thời bên nhà làm thẩm phán.

Tú Gàn lại viết xạo như là lúc đó làm như “y ta” đang đến Thái-Lan thị sát tình hình: “Chính phủ Thái liền cho sửa sang các con lộ ở phiá đông bắc Thái Lan từ Royet tới Chanabot đến Oudorn để cho người chạy loạn có công ăn việc làm. Ông Sáu Hộ vì biết chữ, có thể làm sổ sách luơng bổng, nên được cho làm cai. Trong thời gian làm đường, phu Việt Nam bị bệnh nhiều quá, người Thái dạy thêm cho ông Hộ nghề “chích kim” để chữa bệnh cho nhau … Đi vào làng Việt Nam ở Bắc Thái, người ta thấy gần như nhà nào cũng có treo ảnh ”Bác Hồ”.



Năm 1946, lúc Việt kiều ở Lào tản cư qua Thái nhằm thời luật sư nổi tiếng tốt nghiệp ở Pháp về, và cũng là một nhân vật quan trọng đã lãnh đạo cuộc cách mạng nhằm lật đổ chế độ phong kiến của Thái năm 1931, lập chế độ mới gọi là Quân Chủ Lập Hiến. Đó là thủ tướng Pridi Phnomyong, ông rất có cảm tình với Việt Nam nên ông cho đắp đê dọc các con sông Mékong, Nam Si, Nam Mun để cho người tị nạn Việt có công ăn việc làm. Tú Gàn thêu dệt: “ Năm 1946, thấy Việt kiều ở Lào tràn qua Thái nhiều quá, ở không ăn chơi chính phủ Thái không chiụ được”. Tú Gàn tưởng rằng người tị nạn từ Lào qua Thái được ở Trại và chính phủ Thái cung cấp lương thực như những người tị nạn qua Thái sau năm 1975 dưới chiêu bài tị nạn Liên Hiệp Quốc ?.

Không phải mở thêm các con lộ ở đông bắc từ Royet tới Chanabot đến Oudorn như nhà “nói dốc, nói lấy được”. Tú Gàn mù tịt về điạ dư của Thái mà vẫn làm tàng, tỏ ra ta đây cái gì cũng biết? Ông gàn bát sách ơi ? Ở Thái Lan không có con lộ nào đi từ Roi-Êt (Rói-ệt) thẳng đến Uđon (Udonrajthani) cả?



Tú Gàn, chứng nào vẫn tật nấy, bạ đâu nói đó, không biết rõ cũng khoác lác là ta đây biết. Là người có học nhưng Tú Gàn không có đầu óc khoa học, viết không logic vì cái óc nhỏ hẹp lại chứa quá nhiều cặn bã hận thù: “Ông Sáu Hộ vì biết chữ, có thể làm sổ sách luơng bổng, nên được cho làm cai. Trong thời gian làm đường, phu Việt Nam bị bệnh nhiều quá, người Thái dạy thêm cho ông Hộ nghề “chích kim” để chữa bệnh cho nhau…”. Tú Gàn tốt nghiệp đại học Luật mà quá dốt nhiều mặt. “Biết chữ có thể làm sổ sách lương bổng thì phải làm ở Phòng Kế Toán mới đúng, chứ sao lại làm Cai. Thực ra, bố tôi lúc đó làm “Quản Đốc công trường” chứ không phải làm “Cai” như sự đố kỵ của Tú Gàn. Và đã không nói xấu thì thôi. Khi nói phải nói cho nó hoảng ! Tú Gàn lại cứ vẫn nói bậy: “Phu Việt Nam bị bệnh nhiều quá, người Thái dạy cho ông Sáu Hộ nghề “chích kim”? Tiếng Việt mà Tú Gàn còn dùng sai vì người Việt đâu có bao giờ có nghề “chích kim”? Nếu có liên hệ với kim chích thì chỉ có ba nghề. Đó là Bác sĩ, Y Tá hay Châm Cứu ?



Cái anh chàng cung cấp tin tức cho Tú Gàn để Tú Gàn viết về Lê Trọng Văn và gia đình, anh ta chẳng biết ất giáp gì cả? Vì lúc bấy giờ y hãy còn nhỏ? Chỉ có những người lớn tuổi, cùng làm công chức mới biết nhau thôi. Cỡ như ông thân của nhà thơ Vi-Khuê (bà Chữ Bá Anh) mới biết vì Vi-Khuê lúc còn nhỏ cũng ở Vientiane, Lào. Còn cỡ “trẻ con” như người cung cấp tin cho Tú Gàn làm sao biết được chuyện người lớn; vừa phần anh ta lại có tâm địa ganh tị, nhỏ nhen y hệt như Tú Gàn nên đã tìm cách nói xấu người mình không ưa.

Số là về sau, ông thân tôi thấy làm công chức cho chính phủ Thái chỉ có đồng lương giới hạn nên xin thôi việc, giọn nhà đi tỉnh khác mở Nhà Thuốc Tây và chữa bệnh tại nhà có giấy phép của Bộ Y Tế cấp nên anh ta lúc đó mới biết ông thân tôi làm nghề thuốc.

Tuy ở cùng một địa phương, nhưng những chuyện riêng tư ít người biết được nếu không thân tình và không chịu tìm hiểu. Bố tôi lúc mới ra làm việc làm nghề thuốc. Nhà tôi ở Vinh, Nghệ An. Sau khi bố tôi đổi sang Lào, trên Vientiane ở cạnh nhà ông Katay Sasorith (tên Việt là Cả Tài), bố đẻ ông Katay là người Việt, ông lấy vợ Lào nên theo nhà vợ. Ông Katay lấy quốc tịch Lào, ông đỗ bằng Tú tài Pháp và chơi thân với bố tôi. Khi ra làm việc, ông Katay là dân Lào nên được Pháp trọng dụng và được Pháp bổ đi làm Giám Đốc Nhà In chính phủ (Director: Imprimerie du Gouvernement). Phần bố tôi làm ở ngành Y Tế và sau đó bị đổi lên Houei-Sai (Suối Cát) một huyện ở Bắc Lào vì ở đó không người Pháp nào chịu đi. Bây giờ huyện nầy vừa trở thành một tỉnh mới của Lào với tên là Khoẻng Bò Kéo (tỉnh Mỏ Ngọc). Ở đây, ngày xưa vắng vẻ và buồn tẻ ra riết. Bố tôi đã làm việc ỏ đây 3 năm, lẽ ra được đổi về miền xuôi nhưng thay vì được về xuôi lại phải đổi lên miền Bắc nước Lào là Nam Tha (thủ phủ của dân tộc ít người:Lự), tại đây là vùng ma thiêng nước độc vì sốt rét ngã nước, bệnh nhân nhiều, bố tôi phải là việc mệt nhọc nên phải nhờ ông Katay vận động, giúp bằng cách xin đổi sở và đổi nghề mới được về lại thủ đô Vientiane làm Phụ tá cho ông Katay. Năm 1946, sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương, Pháp chỉ định cho ông Katay Sasorith làm thủ tướng đầu tiên của Lào, ông rất giỏi Pháp văn, ông cũng là chủ bút kiêm chủ nhiệm một tờ báo tiếng Pháp với tên báo là: “Le Bangphay Lao” (Hoả tiễn Lào).

Vì có sẵn nghề thuốc nên sau nầy bố tôi mở Nhà Thuốc Tây và chữa bệnh cho cả người Thái và người Việt tại địa phương. Cũng vì vậy mà cậu cung cấp tin cho Tú gàn chẳng biết ất giáp gì nên đã nói càn; phần Tú Gàn muốn nói xấu chúng tôi nên mới viết bậy là: “Người Thái dạy cho ông Hộ nghề kim chích” ? Để rồi sau này Tú Gàn lại viết chụp mũ:

“Năm 1975, khi đút phim, ông Hộ về thăm bà con, người ta thấy ông Hộ mang lon Trung Tá Quân Y”. Người ta thấy … Người ta là ai? Người nào ?



Tú Gàn viết nhì nhằng:

“Ngày 5.9.1958, chính phủ Thái Lan tuyên bố buộc tất cả 40,000 người Việt đang định cư ở Thái phải hồi hương về Bắc và đại diện Hà Nội đã đến họp bàn đồng ý nhận . Còn Toà Đại Sứ VNCH ở Bangkok tuyên bố không nhận một ai vì họ là VC.

Trong danh sách chính phủ Thái bắt hồi hương về Hà Nội có gia đình Nguyễn Văn Hộ phải hồi hương về vào cuối năm 1959. Nguyễn Văn Thông trốn qua Lào cùng với 28 người khác. Tất cả 28 người nầy xuống Savannakhet qua ngã Đồng Hới để về Việt Nam đầu thú. Sở Nghiên Cúu Chính Trị của bác sĩ Tuyến. Sở này liền khai thác, những người nào khai báo thành thật và thông thạo tiếng Thái thì huấn luyện cấp tốc rồi cấp giấy tờ cho trở lại Thái để hoạt động gián điệp. Chỉ một mình Nguyễn Đình Thông ở lại Vientiane và đổi tên là Lê Trọng Văn để dễ dàng hoạt động. Lê Trọng Văn sau đó lấy vợ Lào và có xin làm “mật vụ” ( Số báo về sau lại đổi là “xin làm thơ ký”) tại Lào. Đại sứ Tôn Thât Hối nhận đơn và gởi về sở Nghiên Cứu Chính Trị ở Saigon để cứu xét. Ông Trần Kim Tuyến phát hiện ra bốn cha con ông Hộ đều hoạt động cho VC nên từ chối”.





Tú Gàn đã ăn ốc nói mò ! Không có việc bắt tất cả Việt Kiều đã định cư ở Thái phải hồi hương về Việt Nam tuy rằng lúc bấy giờ phe quân phiệt nắm chính quyền, nhưng chính quyền Thái vẫn tôn trọng chế độ Kiều cư (Immgration) của Vương quốc Thái và hiến chương Liên-Hiệp-Quốc. Họ chỉ bắt giam những người tình nghi mà họ cho là cán bộ. Có khoảng 500 người bị bắt và bị giam tại khám lớn La-hủ-thột để chờ ngày xuống tàu hồi hương về Bắc. Nhưng lúc đó chính quyền Thái cũng phát cho những Việt kiều bị bắt mỗi người một tờ giấy để điền và ký tên vào là đồng ý hồi hương về miền Bắc hay về miền Nam. Gần như ký về miền Bắc gần hết.

Tuy con số bị bắt hồi hương chỉ có khoảng 500 người, nhưng cộng cả bầu đoàn thê tử, con dâu, con rể, cháu chắt họ hàng cũng đòi về. Vì vậy, tổng số người hồi hương về miền Bắc không dưới năm nghìn người.

Không có chuyện Toà Đại Sứ VNCH tại Bangkok không nhận Việt Kiều muốn hồi hương về miền Nam như Tú Gàn đã thêu dệt? Ông Đại sứ và Trưởng Phòng Kiều Vụ muốn lắm chứ ! Có điều Việt Kiều không mấy thích mà thôi. Tuy vậy cũng có khoảng hơn 150 gia đình xin về miền Nam Việt Nam mà phần đông là công chức cũ của Pháp, nếu về thì vẫn được lưu dụng đúng ngành, rồi đến các gia đình có đạo Gia-Tô và những người gốc Nam-Bộ. Số công chức về thì được cho vào ở cư xá Nguyễn Tri Phương, số còn lại được đưa lên định cư ở Trại Di Cư Hà-Lan A, Bạnmêthuột được cấp nhà đất và một số tiền làm vốn.



Một: Tú Gàn không biết gì. Hai: TÚ Gàn nói sai sự thật :

Số Việt Kiều bị bắt hay bị tình nghi hoạt động cho VC ở Lào, lúc giải về Việt Nam đều phải giao cho Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung dưới quyền của Dương Văn Hiếu, chứ không giao cho Sở Nghiên Cứu Xã Hội và Chính Trị Phủ Tổng thống hay một cơ quan An ninh nào nên không đời nào có chuyện Sở Nghiên Cứu Xã Hội và Chính trị khai thác, huấn luyện và cấp giấy để trở về Thái hoạt động gián điệp như Tú Gàn ‘Phịa”..



Có hai người trong số nhiều Việt Kiều ở Thái trốn qua Lào bị bắt mà tôi biết rõ, sau bị CA Lào bắt giải giao cho VNCH bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung lấy cung, biết họ bị bắt oan nên ông Hiếu trả tự do cho họ ngay. Đó là anh Phạm Văn Hậu bị bắt ở tỉnh Ang-Thong, sau mở tiệm chụp ảnh ở góc Đại lộ Trần Hưng Đạo – Saigon. Tên tiệm là “Hậu Photo” Hậu có vợ Thái và tiệm lúc nào cũng đông khách vì tay nghê cao. Còn anh Lê Văn Lành bị bắt ở tỉnh Ubol, sau mua nhà ở ngã ba Ông Tạ bán tạp hoá và mở tiệm cắt tóc. Sau năm 1975, Hậu vượt biên tới Mã Lai Á rồi cả gia đình được định cư ở Pháp. Còn Lành thì chị ta uống nguyên hộp Opotalidon tự tử, vì buồn Lành lén có vợ hai. Sau năm 1975 Lành cũng chết vì ung thư gan, bỏ lại hai đứa con cho bà mẹ vợ nuôi.



Tôi đâu có khi nào phải trốn qua Lào và lấy vợ Lào như ông Thầy bói Tú Gàn sờ mu Ruà bói trên tờ |Saigon Nhỏ. Năm 1957 thời ông Ngô Trọng Hiếu làm Đại Diện, bác sĩ Thái Doãn Thạc làm cố vấn. Ở trên Lào lúc đó ông Nguyễn Đôn Duyến làm Đại sứ và ông Trần Văn Hướng làm Đệ nhất Tham vụ. Và qua Thái-Lan lúc ông Mai Văn Hàm làm Đại sứ, bác sĩ nha y Nguyễn Văn Thoại làm Đệ nhất Tham vụ là thời gian tôi đã lên Lào, lên Miên và qua Thái-Lan công tác mật. Sau đó tôi lấy vợ, vợ tôi là người Thái, không phải là Lào như Tú Gàn phịa.



Tú Gàn lý luận rằng: “Đỗ Mậu hay Lê Trọng Văn chỉ là thứ tôm tép, không có gì phải đáng bàn nhiều”. Cái đáng phải nói là bọn trí thức hèn nhát và đê tiện nấp sau lưng Đỗ Mậu và Lê Trọng Văn. Hèn nhát khi muốn đánh người khác đã không giám (thật ra là dám,Tú Gàn đã viết sai Chính tả) xuất đầu lộ diện để đương đầu mà chỉ ném đá dấu tay (thêm một lần nữa Tú Gàn lại viết sai chính tả, thay vì giấu tay lại viết dấu tay). Đê tiện vì đã làm những việc bất chính trong bóng tối rồi bắt những kẻ vô danh tiều tốt phải chịu thay cho mình….



Đúng rồi ! Lê Trọng Văn thuộc vào hạng tôm tép, lại là kẻ vô danh tiểu tốt không có gì phải đáng bàn nhiều. Đáng bàn là ông cựu Thẩm phán Nguyễn Cần/Tú Gàn là người vừa có tài, vừa có danh là “chuyên viên phịa”. Lê Trọng Văn thuộc vào hạng tôm tép, không đáng bàn nhiều mà không hiểu vì cớ gì mà Tú Gàn lại đề cập đến tên hèn mọn Lê Trọng Văn này quả có hơi nhiều và lúc nào cũng xuyên tạc: “Theo hồ sơ của tình báo VNCH, Nguyễn Văn Thông (lúc thì Nguyễn Đình Thông, lúc thì Nguyễn Nhân Văn) tức là Lê Trọng Văn hoạt động cho VC tại Lào, Thái …”. Nếu đếm ra thì có hơn 15 số Saigon Nhỏ được Tú Gàn đã đề cập đến tên Lê Trọng Văn trong đó?

Cái đáng bàn là lúc thì Tú Gàn gán cho Trần Bạch Đằng là người viết quyển “Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị” để Lê Trọng Văn đứng tên; lúc khác lại viết “hai kẻ ở gần Los Angelès và Sepulveda” (có ý muốn nói đến Trần Quang Thuận và Bùi Ngọc Đường); lúc đói thuốc lá Tú Gàn lại viết: “những kẻ hèn nhát muốn đánh người khác lại không giám ra mặt”. Ngưòi học Luật mà viết cứ ấp a ấp úng muốn đánh lận con đen như người i-tờ-rít, vô văn hoá, không được học hành? Tú Gàn hẳn phải biết Lê Trọng Văn không phải chỉ viết một quyển “Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị …” mà viết rất nhiều quyển sách khác nữa. Người ta vẫn thường nói “Văn tức là Người”. Vậy thì không cần thiết phải tìm hiểu nhiều về Tú Gàn và Lê Trọng Văn là người như thế nào? Cứ đọc những gì họ viết ra, tức khắc biết ngay họ là người tử tế hay không tử tế”?

Tú Gàn mù tịt về “tình báo” nhưng lại ưa thích show-up (biểu diễn) như ta đây là siêu tình báo, nhất lại là “Tình báo của VC” như trong bài viết “Sợ Sự Thật” được Tú Gàn viết như đi guốc trong bụng VC hay tổ sư của VC không bằng (như là Thường vụ Ban Chấp hành T.Ư Đảng CSVN). Có tài “bói toán” như thần tại sao không tìm đường chạy trước, ở lại thách thức hay sao? Cho nên thay vì Tú Gàn đến Mỹ vào những năm 1975-76 mà phải đến Mỹ muộn màng theo diện H.O.

“Việt Cộng xuyên tạc lịch sử để chứng minh rằng chúng có chính nghĩa và là “đỉnh cao của trí tuệ loài người”, có khả năng lãnh đạo đất nước. Tuy là phịa sử, nhưng có nhiều sự kiện VC phịa ra cũng được nhiều người tin, như vụ Vũ Ngọc Nhạ chẳng hạn. VC đã làm cuốn phim “Ván Bài Lật Ngửa” và viết bộ sách “Ông Cố Vấn” gồm 2 cuốn, biến Vũ Ngọc Nhạ thành Trưởng Cụm Tình Báo A 22, cho mang quân hàm Thiếu tướng, cho lọt vào Dinh Độc Lập làm cố vấn cho tổng thống Ngô Đình Diệm và sau đó là tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”.

“Nhưng trong thực tế, Vũ Ngọc Nhạ chỉ là một tên tình báo cắc ké, văn dốt, vũ nhát, chỉ có bằng Tiểu học, đã giả dạng là người công giáo, đến ở khu Phát Diệm trước hiệp định Genève để theo dõi các hoạt động chống Cộng ở khu này. Di cư vào Nam năm 1954, Nhạ ở khu Bình An của linh mục Hoàng Quỳnh và làm thư ký đánh máy ở Sở Đào Kinh thuộc Bộ Công chánh, do kỹ sư Nguyễn Sĩ Cảnh làm Chánh sự vụ. Cảnh là bố vợ của Cao Đăng Chiếm, cán bộ Việt Cộng nằm vùng nên đưa Nhạ vào làm thơ ký đánh máy”.

À thì ra là thế ! Những tưởng rằng chỉ có VC khen nhau và đọc sách của nhau thôi, ai ngờ những người “cuốc ra” như “nhà lật học”: Nguyễn Cần mà cũng đọc sách VC và cũng khen VC .

“Tuy là phịa sử, nhưng có nhiều sự kiện VC phịa ra cũng được nhiều người tin, như vụ Vũ Ngọc Nhạ chẳng hạn. VC đã làm cuốn phim “Ván Bài Lật Ngửa” và viết bộ sách “Ông Cố Vấn” gồm 2 cuốn, biến Vũ Ngọc Nhạ thành Trưởng Cụm Tình Báo A 22, cho mang quân hàm Thiếu tướng, cho lọt vào Dinh Độc Lập làm cố vấn cho tổng thống Ngô Đình Diệm và sau đó là tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”.

Tú Gàn dã dùng cảm tính tị hiềm nhỏ nhen để viết về Vũ Ngọc Nhạ nên đã viết sai sự thật. Không có một ai cho Vũ Ngọc Nhạ lọt vào Dinh Độc Lập làm cố vấn cho tổng thống Diệm và tổng thống Thiệu được? Nếu Vũ Ngọc Nhạ không có tài, đồng thời việc nầy cũng phải có sự đồng ý của hai ông tông tông Diệm và Thiệu ?

Thêm một lần nữa, Tú Gàn đã quá “lộng ngôn” và xem bạn đọc không ra gì nên mới lên lớp kiểu Quốc Văn giáo khoa thư “lớp Đồng Ấu”; Tú Gàn viét :

“Nhưng trong thực tế, Vũ Ngọc Nhạ chỉ là một tên tình báo cắc ké, văn dốt, vũ nhát, chỉ có bằng Tiểu học”.

Kể cũng lạ thật ! Vũ Ngọc Nhạ chỉ có bằng Tiểu học, chỉ là tên Tình báo cắc ké, văn dốt, vũ nhát mà đuợc ngồi làm Cố Vấn đến hai đời tổng thống VNCH ngay thủ đô của hòn ngọc Viễn Đông. Ngược lại, như ông Nguyễn Cần tự Tú Gàn có bằng đại học “Luật” vừa là “nhà lý luận học” của phe ta mà chỉ làm tới chức thẩm phán quèn của một tỉnh lẽ ngoài Trung nghèo nàn ? Kể ra cũng cảm thấy bất công và người ta muốn điên loạn lên cũng vì vậy! Lê Trọng Văn xin có lời chia buốn cùng Ngài cựu thẩm phán Nguyễn Cần tự Tú Gàn !

Nhà “bốc sư” Nguyễn Cần tự Tú Gàn suy nghĩ những mấy đêm rồi nắn nót viết hết sức mình: Việt Cộng tổ chức Tình Báo theo “tổ tam tam” gồm một Phái khiển, một Cán bộ và một Cơ cán. Nhạ nằm trong tổ của Lê Trọng Văn, do Văn làm Phái khiển, Vũ Ngọc Nhạ làm Cán bộ và Phạm Văn Đường (*) là Cơ cán. Phái khiển thu thập tài liệu, lập báo cáo rồi giao cho cán bộ. Cán bộ chuyển cho Cơ cán để tìm cách chuyển đi.

Tú Gàn viết nhiều về Lê Trọng Văn, vì viết bịa đặt nhiều quá nên quên, không nhớ hết những điều mình đã viết ra, đôi khi còn viết mâu thuẫn, câu trước đá câu sau như viết: “ Lê Trọng Văn chưa bao giờ về Việt Nam …”? Vậy Lê Trọng Văn nào làm Phái khiển trong “tổ tam tam” để điều khiển Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Văn Đường ở miền Nam Việt Nam? Nên nhớ “tổ tam tam” phải ở gần nhau mới làm việc được. Chứ Lê Trọng Văn ở trên Lào, chưa bao giờ về Việt Nam làm sao làm Phái khiển để giao công tác cho Cán bộ Vũ Ngọc Nhạ đang ở Việt Nam được? Ông Tú Gàn ơi làm sao ông ngây thơ thế ?

Câu trên đây về “tổ tam tam” do Tú Gàn viết mâu thuẫn vì một người ở trên Lào và một người ở Việt Nam không thể ghép thành “tổ tam tam” được? Tú Gàn có ý xấu và muốn dèm pha, đồng thời muốn ra điều phủ nhận:

“Lê Trọng Văn chưa bao giờ ở Việt Nam thì làm gì có chuyện Lê Trọng Văn làm việc dưới quyền ông Ngô Đình Nhu ở Saigon”?

Tú Gàn viết có ý chụp mũ Lê Trọng Văn là VC, lúc ở trên Lào thì hoạt động cho VC; lúc ở Việt Nam là Tình báo của VC ở trong “tổ tam tam”cùng với Vũ Ngọc Nhạ….

Trong Saigon Nhỏ, số 263, ngày 07/06/1996 với cái tít giật gân: ”Hậu quả của “Diễn tiến Hoà bình” và “Điệp … đôi”. THANH TRỪNG DỮ DỘI TRONG GIỚI TÌNH BÁO CSVN.

Vọng Các – Thủ đô vương quốc Thái Lan là một thủ đô nổi tiếng ở Á châu như là một trung tâm gặp gỡ của các tay gián điệp tình báo quốc tế. Nguồn tin báo chí Thái lấy từ nguồn tin khả tín kể trên cho biết rằng gián điệp viên và tình báo CSVN đã rối loạn từ lâu trước vụ Nguyễn Hà Phan, tay bị thanh trừng với bản án của Trung Ương Đảng kết tội là cung cấp tin tức cho “Ngụy” và tình báo Hoa Kỳ ….

Một tay gián điệp khác là Vũ Ngọc Nhạ, cấp nhỏ, cán bộ hoạt vụ, bị VNCH phát hiện và bắt giam năm 1956, sau đó Nhạ trở thành chỉ điểm viên của BS Trần Kim Tuyến cho đến năm 1963. Vẫn theo tin trên, vì hoảng loạn do “diễn tiến hoà bình”CSVN đã “thanh toán” hàng loạt cán bộ nội thành. Tình báo CSVN đã thành công to lớn, thiết lập được các mạng lưói tin tức và điệp viên bao trùm cả Lào quốc và Kampuchea trong đó một nhóm hữu hiệu nhất xuất phát từ Vạn Tượng công tác với tình báo Mỹ và Thái Lan, tiêu biểu như chỉ điểm viên Nguyễn Đình Thông tự Trọng Văn, biệt hiệu Văn-Nhân cùng trong màng lưới với Vũ Ngọc Nhạ. Màng lưới này hiện nay đang bị Đảng thanh toán … Thanh toán có nghĩa là bị thủ tiêu, nhưng trái với dự tính của Tú Gàn. Lê Trọng Văn còn sờ sờ ra đó để đến bây giờ lột mặt giả nhân giả nghĩa của Tú Gàn.

Chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị QĐCSVN cho rằng, các tổ chức NGO là một đạo quân “Diễn tiến Hoà Bình” và đây cũng là mạng lưới mà “điệp” len lỏi vào. Đồng thời thanh toán các thành phần như Nguyễn Hà Phan kể cả cán bộ “tép riu” như Vũ Ngọc Nhạ với mạng lưới hải ngoại như Lê Đình Thông tức Lê Trọng Văn, tức Văn Nhân ….

Viết có tính chất hạ cấp, chụp mũ và viết cẩu thả như Tú gàn: nay thế này, mai thế khác, sắp đặt không có lớp lang thì cứ như “Lạy ông ! Tôi ở bụi nầy!”. Đọc những gì Tú gàn viết về tôi, gia đình chúng tôi và Vũ Ngọc Nhạ tôi không nhịn cười được, còn như: ”Một tay gián điệp khác là Vũ Ngọc Nhạ, cấp nhỏ, cán bộ hoạt vụ, bị VNCH phát hiện và bắt giam năm 1956, sau đó Nhạ trở thành chỉ điểm viên của BS Trần Kim Tuyến cho đến năm 1963”.

Ai mà Tú Gàn không vừa ý và để đạp người ta xuống bùn đen thì bao giờ Tú Gàn cũng viết hạ người ta xuống bùn den như làm “mật báo viên hay diểm chỉ viên cho cơ quan An Ninh VNCH” ?

Những cơ quan an ninh của VNCH như: Tình báo, Công An, An Ninh Quân Đội … chẳng biết một mảy may gì về hoạt động gián điệp của Vũ Ngọc Nhạ thì làm sao bắt giam Vũ Ngọc Nhạ? Bắt Vũ Ngọc Nhạ là CIA bắt chứ không phải VNCH bắt. Sở dĩ CIA Mỹ phăng ra Nhạ là may mắn họ bắt được người giao liên. Bị tra khảo, làm nhục, chịu không nổi nên chị ta đành khai ra phần nào. CIA phải ra lệnh cho đàn em đội lốt An Ninh Quân Đội bắt Vũ Ngọc Nhạ về giam vào chỗ bí mật. Biết không dể gì khai thác được Nhạ, tuy vậy CIA vẫn không giao Nhạ cho chính quyền miền Nam. Và họ chỉ giao Nhạ khi VNCH mang Nhạ ra xử công khai, xử xong, Nhạ được chuyển đến khám Chí-Hoà chờ ngày đày ra Côn Đảo.

Một chi tiết mà Tú Gàn vì muốn bảo vệ đạo của mình nên Tú Gàn đã viết nhảm nhí: “Vũ Ngọc Nhạ giả dạng là người đi đạo công giáo đến Phát Diệm ở để lấy tin tức chuyển cho Việt Minh”.

Dưới chế độ VNCH báo chí bị kiểm duyệt, nhưng cũng có báo xé rào đăng tin: “Nhân dịp ngày lễ trọng Noel, Giáo hoàng Jean Paul II đã gửi cho Vũ Ngọc Nhạ ở Côn Đảo một tấm bằng khen tặng Vũ Ngọc Nhạ (tôi đã quên tên thánh của Nhạ) là một tín hữu đã có rất nhiều công trong việc đóng góp xây dựng hoà bình hợp với chủ trương của Toà Thánh và Thiên Chúa kèm theo một thư riêng của Giáo hoàng thăm hỏi và chúc phúc cho Vũ Ngọc Nhạ”. Việc làm nầy của Giáo Hoàng có tính chất công khai và cũng là một cách gián tiếp nhắc nhở chính quyền VNCH đừng làm gì thương tổn đến cá nhân Vũ Ngọc Nhạ. Ông cựu thẩm phán Nguyễn Cần/Tú Gàn đã không xứng đáng là một con chiên của Chúa nên đã tìm cách hãm hại người đồng đạo, trái với chủ trương của Chúa và đạo làm Người?

Lê Trọng Văn thừa biết ai là người đã cung cấp cho Tú Gàn tin tức, lý lịch, gia cảnh của mình và tình hình Việt Kiều ở Lào, ở Thái….?



Người đó, lúc bé tuy cùng học một trường với tôi nhưng khác lớp, anh ta nhỏ hơn tôi những sáu tuổi. Chỉ biết nhau qua loa thôi chứ không biết rõ vì anh ta thuộc lớp đàn em, hơn nữa hai gia đình cũng chẳng thân thiết gì với nhau?

Sở dĩ tôi biết anh ta là người đã cung cấp tin tức về tôi cho Tú Gàn vì phần nhiều con người ta trước lúc chết thường hối hận về những gì mình đã làm không đúng với người khác.



Mới cách đây 6 tháng. Nhân dịp ghé thăm một người bạn ở Bangkok tôi mới gặp anh ta ở đó, vì cách xa nhau những hơn sáu mươi năm trời; anh ta ốm phờ phạc nên tôi nhận không ra. Và anh ta cũng không nhận ra tôi vì lúc nhỏ tôi gầy tong teo. Chúng tôi chỉ còn nhận ra tên của nhau thôi. Người bạn tôi ở Bangkok phải giới thiệu hai người với nhau. Khi người bạn vừa giới thiệu xong, anh ta liền nắm chặt lấy tay tôi rồi nói với giọng run run: “Tôi đã có lỗi với anh nhiều, tôi thành thật xin lỗi anh. Vì ghen tị nhỏ nhen nên tôi đã nói cho Tú Gàn biết về anh và gia đình anh lúc còn ở Lào và ở Thái …”.

Tôi nói với anh ta: “Thôi bỏ qua chuyện đó đi, anh cung cấp tin tức cho Tú Gàn viết về tôi mà đâu có đúng. Cả họ tên anh cũng cho sai, anh chị em có mấy người anh đều nói trật hết. Tôi đã về Việt Nam ở với chú tôi từ năm 1943 mà anh đâu có biết ? Những chuyện Việt Minh ở Lào và chuyện gia đình tôi tản cư qua Thái thể nào tôi đâu có biết trời trăng gì? Phải đợi đến năm 1956, lúc tôi đi công tác ở Thái, gặp lại gia gia đinh và tìm hiểu tôi mới biết được tường tận”.

Người bạn tôi ở Bangkok xen vào hỏi: “Vì chuyện gì mà ghen tị vậy?”. Anh ta đáp:

“Vì đọc quyển Những Bí Ẩn Lịch Sử Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm thấy anh Văn cùng với tụi mình học chung một trường ngày xưa, bổng nhiên anh ấy nổi danh và hách quá, bực không chịu được nên tôi tức quá; mới tìm cách đốn cho anh ấy ngã …”.

Người bạn tôi nói tiếp: ”Lúc còn nhỏ cậu không biết, chứ ông Lê Văn Tỵ trước làm quản Khố Xanh đóng tại Phongsaly trên Lào, sau nầy về Việt Nam ông ấy làm đến Thống tướng chỉ huy cả quân đội VNCH thì sao? Còn ông Cao Văn Viên, người Lệ Sơn, Quảng Bình; nhà ở cầu Xì Hỏm (Vientiane) là đội khố đỏ, đánh bạc thua, nướng cả tháng lương phải đi vay tiền của bố tôi, nhưng sau này về Việt Nam, ông ấy trở thành Đại tướng Tham mưu trưởng thì sao ? Con người ta có số mạng, mình không thể ganh tị được. Cậu xin lỗi anh Văn là đúng rồi”?



Tôi không muốn tiết lộ tên và cũng không muốn nói thêm gì về cá nhân người đã cung cấp tin tức về tôi cho Tú Gàn vì anh ta mới chết ở Anaheim Hills. California cách đây hơn hai tháng. Anh ấy đã có lời xin lỗi tôi và hiện nay đã ra người thiên cổ! Tôi cầu xin cho hương hồn người quá cố được giải thoát phiêu bồng ….



Tú Gàn nghe người cho tin không rõ đầu đuôi, phần vì có thành kiến với tôi nên đã viết thêm bớt, viết không đúng sự thật với mục đích trả thù vì Lê Trọng Văn đã to gan đụng đến thần tượng của Tú Gàn là tổng thống Ngô Đình Diệm anh minh và dám nói Thượng Đế của Tú Gàn là con ngoáo ộp!



Tú Gàn đã cố tình viết không đúng, chẳng hạn như :

”Năm 1946, Pháp chiếm Đông Dương, những người theo Việt Minh ở Lào bị Pháp bố ráp phải vượt sông Mé kông qua Thái, trong đó có 4 cha con ông Hộ. Lúc đó Nguyễn Văn Thông mới có 11 tuồi (Thông sinh năm 1935).



Năm 1956, trong khi qua Thái công tác, tôi tìm hiểu và thu thập tin tức về Kiều bào thì được biết vào tháng 4 năm 1946, Việt Minh đã ra lệnh cho tất cả Kiều bào ở Lào phải tản cư sang Thái, ai không nghe sẽ bị bắt và ghép vào tội Việt gian. Những Kiều bào ở trong tỉnh và ở ngoại ô đều thi hành lệnh tản cư răm rắp, ngoại trừ các gia đình ở lẽ loi, xa tỉnh hàng chục cây số, ngoài vòng kiểm soát của Việt Minh thì mới có cơi hội trốn ở lại được. Kiều bào bỏ vườn không, nhà trống tản cư sang Thái rồi mà mãi tới một tháng sau Pháp mới vào tiếp thu các tỉnh Vientiane, Thakhek, Savannakhet, Paksé, Attopeu và Saravane. Như vậy làm sao có chuyện “bố ráp” hả ngài cựu thẩm phán? …

Không có chuyện xẩy ra như Tú Gàn nói liều mạng :

“Năm 1946, Pháp chiếm Đông Dương, những người theo Việt Minh ở Lào bị Pháp bố ráp phải vượt sông Mé kông qua Thái, trong đó có 4 cha con ông Hộ. Lúc đó Nguyễn Văn Thông mới có 11 tuồi (Thông sinh năm 1935)”.

Ông thân tôi là công chức thời Pháp. Theo thủ tục hộ tịch vào lúc bấy giờ, nếu một công chức sinh con thì phải làm ngay giấy tờ khai sinh của đưa trẻ ngay để được lĩnh tiền lương con. Ai dại gì mà không khai để có thêm tiền; khai trễ đến 6 năm vừa mất tiền vừa để con mình học trễ thì ai dại dột để làm điều ấy? Chả nhẽ để con lớn đến 13 tuổi mới xin cho con vào học lớp Một sao?

Sở dĩ Tú Gàn nói tôi sinh năm 1935 vì người cung cấp tin tức không biết rõ tôi sinh năm nào? Chắc có lẽ bị Tú Gàn khai thác quá nên anh phải nói liều là tôi sinh năm 1935, sấp sỉ bằng tuổi anh ta.

Tú Gàn còn xuyên tạc và viết mâu thuẫn, lúc thì viết Nguyễn Dình Thông, lúc thì Lê Đình Thông ở Thái trốn qua Lào, đổi tên là Lê Trọng Văn và lấy vợ Lào? Nếu phải kể hết những cái sai của Tú Gàn thì phải tốn ít nhất cũng 30 trang giấy. Không những viết sai mà Tú Gàn với tâm điạ nhỏ nhen, ti tiện viết bịa đặt vô lý; người có trình độ hiểu biết và có liêm sĩ không thể chấp nhận được lý luận rẻ tiền và ngoan cố của Tú Gàn. Như Tú Gàn đã phóng bút viết bừa, thiếu trách nhiệm của một người cầm bút chân chính.

Một điều đặc biệt, Tú Gàn không thể giấu giếm và cũng không thể che đậy được nên bắt buộc phải viết ở Sàigon Nhỏ, số 458, ngày 08/12/2006:

“Không ai biết sau 30.4.1975 Lê Trọng Văn đến Hoa Kỳ năm nào và theo loại nào. Người ta chỉ biết LTV sống với cộng đồng người Lào ở Colorado, và khi nhập quốc tịch Mỹ đã đổi tên là David Le …. “.

Đến bây giờ, qúy vị và các bạn mới thấy rằng Tú Gàn “gian” mà không ngoan? Gian ở chỗ nào ? Gian làm sao ?

Cái gian là khi Tú Gàn viết về lý lịch của Lê Trọng Văn và gia đình. Câu chuyện đó cách đây lâu cả đến hơn nửa đời ngưòi ( có trên 50 chục năm) và ở mãi tận bên Lào, bên Thái; cách xa nhau đến hơn 2.000 miles (dặm Anh) mà Tú Gàn kể xem như là mắt của Tú Gàn mục kích thấy và tai nghe được sự thật; như chính mình trông thấy, nghe thấy. Không cần phải hỏi ai cho mất công, tốn thì giờ vì nó có hình dạng, tên tuổi hình như đang đứng trước mặt Tú Gàn. Câu chuyện viết ra mà trong đó có những điều viết về Lê Trọng Văn được Tú Gàn và phe đảng bảo đảm là có thật 100 phần 100, Lê Trọng Văn hết đường chối cãi?

Nhưng đồng thời, ngược lại cũng chuyện quan trọng có liên hệ tới Lê Trọng Văn không ở đâu xa, ở ngay trước mắt, ở xứ Cờ-hoa này thì Tú Gàn chẳng biết một tị gì ? Chúng ta hãy nghe Tú Gàn tự thú:

“Không ai biết sau 30.4.1975 Lê Trọng Văn đến Hoa Kỳ năm nào và theo loại nào. Người ta chỉ biết LTV sống với cộng đồng người Lào ở Colorado, và khi nhập quốc tịch Mỹ đã đổi tên là David Le …. “.

Chuyện ở ngay trước mắt gần đây, nhìn thấy trực tiếp mà vẫn nói sai thì làm sao thiên hạ tin được những chuyện xa xôi, cách nay hàng nủa thế kỷ? Tú Gàn còn viết mập mờ viết “Lê Trọng Văn ở Colorado”. Bang Colorado có nhiều thành phố lớn như: Denver, Colorado Spring, Boulder. Pueblo, Ft.Collins thì biết Lê Trọng Văn ở thành phố nào?

Lê Trọng Văn sợ quá phải chạy về San Diego ?

Ở tiểu bang Colorado người Lào đếm được trên đầu ngón tay nên không có Cộng Đồng Lào nào như Tú Gàn nói cả. Chỉ có một số người Hmong/Mèo làm việc ở Văn Phòng Tị nạn tiểu bang. Và từ lúc sang Mỹ đến giờ, tôi đã ở nhiều tiểu bang, Tuy vậy, tôi không bao giờ thuê nhà hay mua nhà gần xóm nhà người Châu Á, châu Phi và Mỹ Latin. Cái đó, không phải là kỷ thị hay có cái gì khác thường vì chỉ không thích sống xô-bồ và muốn được yên thân. Hiện nay, tôi cũng không sinh hoạt với bất kỳ Cộng Đồng nào? Cho nên Tú Gàn nói: ”Lê Trọng Văn sống với cộng động Lào” là hoàn toàn sai. Vì ở Colorado không có cộng động Lào nào hết. Người Lào thực thụ ở đây có không quá 15 gia đình ?

Tú Gàn lại viết: Tại Colorado, Lê Trọng Văn tự xưng là “fomer diplomatic” viết bài tố cáo ngưòi Mèo, tức người Hmong đã hoạt động cho CIA và giải thích tại sao VC và Pathet Lào phải mở cuộc hành quân tiêu diệt người Hmong ở Bắc Lào để biện minh cho chính sách diệt chủng của Pathet Lào và VC đang bị thế giới lên án. Bài này đã làm cho họ phẩn nộ.

Ngày 4.15.1983, Trung tâm Cộng Đồng này đã gởi cho Lê Trọng Văn một văn thư, ở trên lá thơ ghi rõ : “To David Le. Former commumist diplomatic and spy in Laos”. You are a spy who informed all information about the right wing government to the communist during the war. If you cannot bear this sins to hell, then you can have your gang to help you”.

(Gởi David Le, Cựu nhân viên ngoại giao và gián điệp tại Lào. Ông là một tên gián điệp đã báo cáo tất cả tin tức về cánh hữu cho CS trong suốt thời gian chiến tranh. Và nếu ông là một tên gián điệp tài giỏi, hãy trả lời các câu hỏi của chúng tôi trong vòng một tuần lễ cho hàng trăm ngàn người Hmong đã chết sau chiến tranh, bởi vì ông là một tên gián điệp làm việc rất giỏi cho CS. Nếu ông không thể mang những tội này xuống địa ngục, ông có thể nhờ bọn băng đảng của ông giúp đỡ).

Nhận được lá thơ nầy, Lê Trọng Văn bỏ chạy về San Diego, California lánh nạn.

Việc trên đây không liên quan gì đến chính trị hay gián điệp gì cả. Nó chỉ dính dấp đến văn hoá và sử học mà thôi. Bởi vì tôi có đọc một quyển sách mỏng của một người Mỹ tự xưng là tiến sĩ (chic). (Tôi quên tên ông ta và không biết ông ấy là tiến sĩ gì ?). Quyển sách không ghi tên nhả xuất bản nên tôi nghĩ nó chỉ là quyển sách dùng để tuyên truyền ! Và tôi có quyền viết những gì tôi cho là không đúng.

Vấn đề chính và quan trọng là chỗ của sách nói về lịch sử người Mèo (Hmong) có nhiều thành tích bách chiến bách thắng đến nỗi dân châu Âu phải kinh hoàng. Họ có tài cưỡi ngựa và bắn cung và thuộc giống người thông minh vào hàng nhất, nhì trên thế giới. Dân Hmong (Mèo) có dân số rất đông, phải lên đến hơn 350 triệu dân, ở rải rác khắp cả thế giới. Ngày xưa họ có chữ viết nhưng vì trải qua chinh chiến cả triệu năm nên chữ ấy bị thất lạc. Chữ Hmong ở chữ Mongolia mà ra …..”

Sau khi đọc xong quyển sách đó, tôi có ý định viết một bài báo để gửi tờ Denver Post đăng. Bài viết chưa hoàn chỉnh nên tôi mang vào sở để sửa trong giờ cơm và để trên bàn giấy. Có một nhân viên người Miên làm ở Sở Tị nạn Đông Dương thường vào Phòng tôi chơi mỗi khi anh ta đi công viêc. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Miên. Anh này tò mò đọc bài viết đó. Sau khi đọc sơ qua, anh khen hay và muốn xin tôi một copy. Tôi trả lời. “Chẳng hay ho gì hết. Đâu có phải là tiểu thuyết. Đây là bản nháp chưa viết xong nhưng nếu anh muốn có tôi vẫn có thể cho anh được”. Anh ta nói: ”Cho tôi xin để đọc cho biết”. Tôi đồng ý và đến Phòng copy sao cho anh ta một bản. Anh ta cảm ơn rồi ra về.Nhưng không phải anh ta cốt xin bản thảo đó về đọc mà để cốt lập công với Trưởng Phòng là một người Việt tên Tô Tiến Phát (cựu thiếu tá không quân VNCH).

Khi tôi mới đến Denver nhận việc thì có hai, ba người Việt hỏi tôi: “Anh có đến trình diện với Tô Tiến Phát chưa”? Tôi đáp: ”Ông ấy là ai mà tôi phải đến trình diện? Ông ấy coi về tị nạn. Còn tôi làm Consultant thuộc Bộ Y Tế đâu có dính dáng gì với nhau? Rồi họ nói tiếp: ” Nhưng ông họ Tô này hách xì xằng lắm, kiếm chuyện đủ thứ với ma mới đến đây”. Tôi nói: “Tưởng ông là người đàng hoàng tử tế thì mình đến thăm cũng được, chứ ông làm bộ ta đây thì đến chỉ thêm phiền phức”?

Tôi những tưởng câu chuyện vặt đó rồi qua đi, có ngờ đâu hai người kia nói đúng. Ông Tô Tiến Phát xúi bọn ngưởi Mèo/Hmong kia làm rùm beng lên. Vì trong bài viết bằng Anh ngữ, tôi có viết những vấn đế chính sau đây:

1- Nhân số ngưòi Mèo/Hmong đào đâu mà lắm thế ? Cộng chung lại ở Diến, Thái, Lào, Việt, kể cả ở bên Tàu nữa vì bên đó là xứ sở gốc của người Mèo cũng không được đến một triệu? Sao ông tiến sĩ rởm này lại nói có hơn 300 triệu. Đến người Mông Cổ (Mongolia) cũng không có nhiều bằng ấy?

2- Còn bảo họ (người Mèo) bách chiến bách thắng thì phải có bằng cớ, chứng tích ở đâu ra, chứ nói khơi khơi như vậy ai nói mà chẳng được?

3- Nói khi xưa họ cưỡi ngựa bắn cung giỏi. Đọc trong các sách về lịch sử cũng không có sách nào nói như vậy?

4- Họ là giống dân thông minh nhất nhì ở thế giới nầy thì đâu là bằng chứng? Nói ngược lại thì đúng hơn; vì căn cứ theo khoa học và y học hễ tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã hút thuốc phiện thì dòng tôc, con cháu bị ảnh hưởng, nhất dịnh không thể thông minh dược-

5- Thời gian tôi đi làm ngoại giao (hình thức) tôi nghe ở Lào, ở Thái, ở Miến … vừa phần đọc các sách nói về dân tộc Mèo và chỉ mới đây, họ tự xưng mình là người Hmong. Còn như trưóc đây ở Miến, ở Lào, ở Thái và ở Việt Nam cho đến người Pháp, người Anh đều gọi họ là nguời Mèo. Đọc trong truyện Tam Quốc có nói đến “Rợ Miêu”, Miêu đích thị là Mèo. Theo người tiến sĩ Mỹ viết sách dẫn giải nói: “Có thể người Hmong là giống người Mongolia khi xưa”. Cho nên danh từ Mongolie và danh từ Hmong giống nhau.

Tôi viết phản bác: “Nói như vậy là vô căn cứ và thiếu logic. Người Mông-Cổ to cao, vạm vỡ, mắt xếch, mắt có thần. Trái lại, người Mèo nhỏ con, hơi lùn, người không cân đối nhất là bắp chân vì phải leo núi nhiều, đôi mắt không có thần như lờ đờ. Chân mày không rậm, không xếch như người Mông-Cổ …

6- Điểm nầy mới là điểm quan trọng, những người Mỹ trước kia công tác ở Lào, đặc biệt giới chức CIA cần phải sửa sai, vì họ thường nói Xieng-Khoang (Trấn-Ninh) là một nước độc lập của người Hmong/Mèo. Thật ra, từ xưa tới nay, nếu có quốc gia Hmong thật sự thì nó nằm đâu ở miệt Cham-Do hay Yun-Nan (Vân Nam) bên Tàu. Do bị Tàu xâm lăng nhiều lần nên dân Mèo phải bỏ nước ra đi nên mới phải chạy tản mác xuống các nước miền Nam như: Diến-Điện, Thái, Lào và Việt Nam. Vì đến trễ hơn các dân tộc thiểu số khác nên người Mèo phải lên đồi núi ở. Xiêng-Khoảng là Trấn Ninh ngày xưa của Việt Nam. Lúc thực dân Pháp đến xâm lược Đông Dương, Pháp bắt Việt Nam phải trả lại Trấn Ninh cho Lào.

7- Bảo dân tộc Hmong/Mèo ngày xưa đã có văn tự (chữ viết) là hoàn toàn vô căn cứ. Đó chỉ là cách nói phản khoa học. Dân tộc nào có chữ viết tất nhiên phải có sử sách biên chép, không thể nói càn? Không có chữ là phải đi vay, đi mượn văn hoá nước khác. Vì CIA Mỹ muốn liên lạc dễ dàng nên họ đã đặt cho người Hmong/Mèo chữ viết Latin làm văn tự Hmong/Mèo.

Ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, chính sách của Mỹ là thích có người dễ sai bảo nên đã chọn Vang-Pao. (Người Lào định danh Vang-Pao là tên thổ phỉ, buôn lậu thuốc phiện và bất tài). Nhưng Vang Pao vẫn được CIA chọn làm nhà lãnh đạo người Hmong/Mèo mà không chọn Tou-Geu, Tou Bee, Ly Foung là những người có trình độ học thức, có sự hiểu biết, được lòng dân. Cũng như ở miền Nam Việt Nam, Mỹ đã chọn Nguyễn Văn Thiệu !

Một điểu mà nhiều ngưòi không nghĩ và ít ngờ đến. Ví dụ ngược lại. Nếu Mỹ đánh bại CS ở Đông Dương thì chắc chắn CIA Mỹ với nhiều quyền lực sẽ lập một nước Hmong/Mèo riêng biệt trên Vương quốc Lào. Cũng vì thế mà nhiều người Mèo không biết cứ dương dương tự đắc: “ Cứ nhận vơ, ta đây thuộc giống Mongol khi xưa, đã từng bách chiến bách thắng làm châu Âu phải sợ hãi. Dân Hmong có nhân số hơn 350 triệu người vân vân và v.v.…”. Cũng vì vậy, cho nên gần đây đã xẩy ra vụ người Hmong/Mèo ở Mường Nhé (Điện-Biên-Phủ) đòi lập vương quốc Hmong/Mèo ở trên đất nước Việt Nam.

Điều đặc biệt khác quan hệ đến lịch sử như các tỉnh thuộc miền Tây Bắc của Việt Nam ngày nay, khi xưa là đất Thái. Cái nôi của nước Thái là Mường-Then, tức là Điện-Biên-Phủ ngày nay. Các tỉnh Sơn La, Lao-Kay (không phải Lào-Cai), Lai-Châu thuộc Síp Xỏng Phăn Na (Mười Hai Châu Thái). Khi thực dân Pháp xâm chiếm Đông Dương, đồng thời Pháp mang chiến thuyền tới Thái uy hiếp bắt Thái phải ký nhượng cho Pháp Mười hai Châu Thái. Vì nền độc lập của mình, vừa phần đang bị Anh, Hoà-Lan đe dọa nên Thái phải ký nhượng cho thực dân Pháp (Chúng tôi sắp hoàn thành quyển LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC THÁI. Lẽ ra là hoàn chỉnh rồi. Nhưng vì phải viết lại quyển: ”Những Bí Ẩn Lịch Sử Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm”).

Với sự cố vấn của ông Tô Tiến Phát, nhóm người Hmong/Mèo làm việc dưới quyền ông ta (Colorado Refugee Services) đã mở một chiến dịch rầm rộ với nhiều mục đích: 1- Làm đơn chụp mũ khiếu nại với FBI (tôi nghe nói nhưng không biết rõ trong đơn viết những gì?). 2- Làm đơn thưa với Bộ Y Tế bang Colorado là Lê Trọng Văn đã lợi dụng chức vụ, cơ hội trong giờ làm việc để tiếp xúc với người tị nạn tuyên truyền đánh phá người Hmong làm lợi cho CS. Yêu cầu bãi chức đương sự. 3- Mặt khác, viết thư gửi cho tôi, nhưng gửi tới văn phòng tôi làm việc phản đối và đe dọa tôi, buộc tôi phải viết thư xin lỗi, đồng thời phải trực tiếp xin lỗi trước Cộng Đồng. người Hmong.

Tôi cứ lờ đi, không trả lời họ làm như không có chuyện gì xẩy ra. Vì tôi hiểu luật pháp Mỹ cũng như tin tưởng Hoa Kỳ là một nước văn minh Dân chủ Pháp trị, toà án công bằng. Mặt khác, tôi được bác sĩ (giáo sư) trưởng phòng gọi lên, ông cho biết các diễn tiến của sự việc và ông cũng cho biết bên Văn Phòng Tị Nạn bang Colorado đề nghị sa thải tôi. Ông nói với họ là ông không thể chấp thuận vì thiếu bằng chứng. Nếu sa thải, tôi sẽ thưa tại Toà đòi bồi thường. Vả lại, ông không muốn rắc rối….Và cuối cùng ông nói với tôi: “Thôi, anh cứ làm việc như thường đi và nên cẩn thận đừng để họ kiếm chuyện”.

Chuyện trung tướng Trình Minh Thế bị ám sát.

Hôm 25.1.2006, ông Trình Minh Sơn, con trai của tướng Trình Minh Thế, lại gủi đến Saigon Nhỏ một văn thư quả quyết tướng Thế đã bị ám sát với đoạn thơ viết tay của bà Nguyễn Thị Kim, phu nhân của tướng Thế như sau: “Chồng tôi có thể bị âm mưu sát hại từ trong dinh Độc Lập về họp Tham mưu với Ngô Đình Nhu. Sau đó đem xác ra mặt trận ở cầu Tân Thuận và hô lên chết trận ….”.

Lý do phát sinh nghi vấn ?

Từ ngày tướng Thế bị tử trận đến ngày qua Mỹ, gia đình của tướng Thế và các chiến sĩ Cao Đài Liên Minh không bao giờ nêu ra một nghi vấn nào về cái chết của tướng Thế. Nhưng kể từ ngày Lê Trọng Văn qua Canada, tìm đến gặp gia đình bà Trình Minh Thế và làm “thầy dùi”, nghi vấn mới bắt đầu được đặt ra …

Kính thưa chị Hoàng Dược Thảo và kính thưa ông Tú Gàn.

Trên tờ Saigon Nhỏ số 781 ra ngày 11-10-2006, có đăng lá thơ đính chính của tôi về cái chết của phụ thân tôi là cố trung tướng Trình Minh Thế, và sau đó ông Tú Gàn đưa ramột giả thuyết của một vài nhân vật tranh luận về cái chết mờ ám đó. Cuối cùng ông Tú Gàn đi đến kết luận với giả thuyết thủ phạm là Đại tá Savani, Trưởng Phòng Nhì Pháp, và cho đó là có giá trị pháp lý và sử liệu….

Cách đây 4 năm, ông Nhị Lang, người đồng chí cố vấn của ba tôi có viết một bài báo tựa đề: ”Ai giết tướng Trình Minh Thế” (cùng tựa đề với ông Lê Trọng Văn) đăng trên VNTP, số 636, ngày 31-07-2002, trang 24, trong đó ông Nhị Lang có đưa ra giả thuyết là Đại tá Savani, Trưởng Phòng Nhì Pháp, vài tuần lễ trước khi qua đời có tự thú với ký giả Pháp Jean Lartéguy, tác gỉả cuốn sách “Soldats perdus et fous de Dieu” trang 244-245 nguyên văn như sau:

“Chính tôi đã giết Trình Minh Thế. Không, tôi không đích thân cầm cây súng carbine đó, nhưng tôi đã chuẩn bị mọi việc chu đáo. Thế bị giết bằng một viên đạn duy nhất bắn ngay vào đầu, do một người trong nhóm thuộc hạ của tôi bắn trên cầu“Bình Đại”.Viên đạn này không bắn từ chiếc Vedette. Tên thuộc hạ đó biến mất sau đó, không có gì là khó khăn. Cái tên của hắn cũng chẳng cần nói lên làm gì. Có thể nói rằng ngày hôm đó hắn ta mang lon Trung úy. Ngoại trừ phe nhóm của Lansdale, còn tất cả đều biết ơn tôi về vụ hành quyết Thế. Kể cả ông Diệm là người sẽ khó tồn tại lâu dài nếu Thế không biến mất. Tôi ra lệnh hành quyết Thế không phải ông Diệm vui lòng hoặc để giúp bọn Bình Xuyên mả chính là để trả thù cho tướng Chanson, như tôi đã tự thề thốt với lòng”.

Mẹ tôi, khi đọc những lời lẽ thiếu chứng cớ và vô giá trị trên, có viét một là thơ đính chính ngày 18-08-2002 gởi đi cho một tờ báo. Tôi xin trích ra một đoạn như sau:

Tuy nhiên có một điểm tôi không cùng quan điểm với thủ phạm đã giết chồng tôi. Giả thuyết đại tá Tình báo Pháp tên Savani, trước khi chết vài tuần đã tiết lộ với ký giả Jean Larteguy rằng: “Hắn đã ra lệnh cho tên Trung úy thuộc hạ bắn tướng Thế bằng một viên Carbine duy nhất vào đầu. Sau đó lẫn trốn dễ dàng”. Chỉ có bao nhiêu lời lẽ đơn giản đó không đưa ra bằng cớ kế hoạch thế nào. Làm thế nào để bố trí một người Pháp có thể lảng vảng gần một vị túng lãnh đang thị sát chiến trường để ra tay hạ sát và sau đó lẫn trốn ở đâu và bằng cách nào? Dữ kiện thật thiếu sót mơ hồ và vô lý? Hơn nữa bọn thực dân Pháp giét chồng tôi thì tại sao không công khai công bố một chiến công to lớn. “Tôi thấy lời lẽ tên đại tá Pháp là láo khoét vô căn cứ, không đáng tin cậy và bận tâm …”. Lá thơ của Mẹ tôi gởi cho một tờ báo (tạm dấu tên) ở bên Mỹ nhờ đính chính, tờ báo không đăng và cũng không trả lời, mà lại chuyển lá thơ đó cho ông Nhị Lang và ông Tạ Thành Long. Hai ông nầy liền vội vàng gọi điện thoại qua xin Mẹ tôi bỏ qua, đừng cho đăng bài báo đó nữa. Mẹ tôi chỉ chịu bỏ qua với điều kiện là ông Nhị Lang không bao giờ được viết Ba tôi chết vì một viên đạn duy nhất và giả thuyết Savani là thủ phạm. Từ đó cho đến ngày ông Nhị Lang mất, ông không bao giờ viết về cái chết của Ba tôi nữa.

Ngoài ông Nhị Lang ra, có thêm ông Tạ Thành Long và ông Văn Thành Cao cố bám víu vào câu nói vô lý, vô căn cứ và sai luôn cả điạ điểm “cẩu Bình Đại” của tên đại tá Savani, mà coi đó như là một giả thuyết có giá trị đáng tin cậy để đem ra thuyết phục và đánh lừa dư luận.

Nhưng vào ngày 3-5-1955 lúc 3 giờ trưa đại úy Tạ Thành Long, Tùy viên Quân sự của Ba tôi lấy xe Jeep chở ba tôi vào dinh Độc Lập họp, cùng đ0i trên xe có một tài0 xế và mộ cận vệ. Đến khoảng 6:30 chiều. ông Long chở xác chết Ba tôi về và công bố: Ông chở tướng Thế đi thị sát chiến trường trên cầu Tân Thuận, trên đường về ở giữa cầu, tướng Thế bị trúng đạn chết gục rên tay trái của ông Long. Ông Long chở thi hài Ba tôi về thẳng Tổng Hành Dinh Cao Đài Liên Minh (55 Trương Minh Giảng) mà không chở qua bệnh viện cứu cấp hay giảo nghiệm thương tích và chánh quyền cũng không hề mở cuộc điều tra về cái chết hay làm giấy khai tử. Vài ngày sau đó, đại úy Tạ Thành Long được Thủ tướng Diệm tín cẩn bổ nhiệm làm Phụ tá Tham mưu Biệt bộ Phủ Thủ tướng và sau đó được thăng cấp Thiếu tá. Còn người tài xế tên Ba Xôm và người cận vệ tên Tước đi theo Ba tôi ngày hôm đó, cả hai đều bị giết mờ ám một năm sau ….

Thay mặt bà quả phụ Trình Minh Thế

Con trai: Trình Minh Sơn.



Bằng chứng về cái chết của tướng Thế rõ ràng như tôi đã viết trong quyển “Những Bí Ẩn Lịch Sử Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm’. Bây giờ cả bà Thế và con trai cũng đã lên tiếng, chúng tôi nghĩ rằng đã quá đầy đủ, chẳng cần phải nói gì thêm nữa. Tuy nhiên, những sự kiện đó không làm vừa lòng những người tôn ông Diệm lên hàng ”chí sĩ” như Tú Gàn. Tôi viết quyển sách trên như một người viết sử hầu để lại cho đời sau biết những sự kiện gì đã xẫy tại miền Nam Việt Nam trong thời ông Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng và tổng thống chứ không có mục đích gì khác. Tôi chỉ gặp bà Thế duy nhất có một lần trong buổi tang lễ tướng Thế tại Saigon năm 1955. Từ đó đến nay, tôi không hề gặp lại bà Thế, và gia đình bà ấy đến Canada lúc nào tôi cũng chẳng hề hay biết. Vậy mà thiên hạ cứ tưởng rằng ngài cựu thẩm phán Nguyễn Cần/Tú Gàn đã biến thành con ’’rận” bám vào chỗ hiễm hóc trong người của Lê Trọng Văn mới biết ông Văn ban ngày làm gì, ban đêm làm gì ? Đi đứng ra sao? Cho nên Tú Gàn mới biết chắc Lê Trọng Văn qua Canada tìm gặp gia đình tướng Thế.

Tiện đây, xin nói luôn Tú Gàn đã bói sai. Muốn làm “bốc sư”, Tú Gàn nên kiếm chai rượu và xôi gà tới vái Vũ Tài Lục làm sư phụ. LTV hé chút đỉnh cho Tú Gàn biết LTV là thổ công Saigon (không như Tú Gàn “phịa”: Lê Trọng Văn chưa bao giờ ở Việt Nam. Chưa bao giờ ở Việt Nam làm sao biết được Vũ Tài Lục có nhiều nghề như đã làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Lập Trường ? Chưa bao giờ ở Việt Nam mà Và Lê Trọng Văn cũng đã từng dự lớp “Tùy viên Báo Chí” với Đỗ Tiến Đức hiện nay là chủ một tờ báo ở Los Angeles; chưa bao giờ ở Việt Nam, tuy là hậu bối nhưng Lê Trọng Văn đã từng làm Toà Công Sứ cùng với ông Hoàng Khamsène ở Lao-Kay (Di cư vào Nam, ông Khamsène làm tại Tổng Nha CSQG). Lê Trọng Văn còn phục ông Khamsène, ông đã quạt lại xếp Tây nhiều lần nên ông bị đổi đi nhiều nơi và không được lên chức.

Nhân tiện đây, tôi thành thật cảm ơn các bạn hữu đã quan tâm đến tôi và tại sao tôi không nói ra cho thân hữu biết những điều mà họ chưa biết rõ. Các thân hữu còn nói: ”Anh phải nói ra trước là để bạn đọc hiểu thêm về anh, sau nữa để dạy cho Tú Gàn một bài học để đời”.



1- Tú Gàn bảo: Lê Trọng Văn học không hết Tiểu học. Chỉ biết nói tiếng Tây bồi.

Lê Trọng Văn học không hết Tiểu học, nhưng có điều có đủ sức sửa lưng Tú Gàn vì Tú Gàn chẳng biết mô tê gì về danh từ Pháp. Tú Gàn đã viết sai thời ông Mậu đi lính “Khố Xanh”. Đó là trước năm 1945 Pháp chỉ dùng danh từ “Garde Indigène”, chứ không phải “garde indochinoise” như Tú Gàn đã viết sai về Pháp-Văn. Viết chữ “Garde Indochinoise” phải viết hoa (Majuscule) như vầy mới đúng. Viết chữ thường nhu Tú Gàn viết: “garde indochinioise” là viết sai vì viết bằng chữ thường (Minuscule). Hai chữ Garde Indigène như là kỳ thị và khinh khi nên sau khi Pháp tái chiếm Đông Đương sau năm 1946. thực dân Pháp mới đổi chữ “Indigène” ra “Indochinoise”.

2- Tú Gàn còn dương dương tự đắc coi khinh Lê Trọng Văn nên đã viết: Lê TrọngVăn học hành chẳng ra gì. Nói tiếng Anh bằng tay chân và chỉ biết hai chữ Yes-No. Tú Gàn còn viết: “Không ai biết sau 30.4.1975 Lê Trọng Văn đến Hoa Kỳ năm nào và theo loại nào. Người ta chỉ biết LTV sống với cộng đồng người Lào ở Colorado, và khi nhập quốc tịch Mỹ đã đổi tên là David Le …. “.

Văn ta không muốn khoe khoang mà chỉ hé tí ti cho Tú Gàn biết để cho ngài cựu thẩm phán chừa cái thói tự kiêu, tự phụ vừa có cái tật “xem Trời bằng vung” ! Sau khi Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng bắt ông Dương Văn Hiếu, tôi được tin họ đang lùng bắt tôi (tuy không biết mặt nhưng họ biết tên. Phần sợ những cộng tác viên phản). Tôi nghĩ chỉ có cách ra ở Cam-Ranh làm việc cho Mỹ là tạm an toàn. Vì tôi đã dự tính trước nên làm sẵn 4 giấy căn cước với 4 tên khác nhau. Tôi vào Cam Ranh Air Force Base xin làm phụ tá Trưởng Phòng Nhân Viên (Assistant Manager). Anh Nguyễn Ngọc Tuân là người có ngạch cao nhất (VGS-12) anh ấy giới thiệu tôi vào làm việc với ngạch VGS-9. Tôi mua nhà ở cư xá Cam-Ranh đường Phan Chu Trinh. Thỉnh thoảng vẫn bay về Saigon chơi và dò la tin tức vì đi máy bay Quân sự Mỹ không mất tiền. Khi biết an ninh không biết rõ lý lịch mình. Tôi thôi sở Mỹ quay về Saigon và sang lại Demi-Gros thuốc Tây ở đường Nguyễn Văn Thoại (chỗ vườn cao-su cũ). Nhờ đi bỏ mối thuốc mới biết ở Long-Khánh (Xuân-Lộc) đang có phong trào mở đồn điền Càphê, chuối v.v.,. Tôi liền mua lại đồn điền càphê và mua thêm đất để khuyếch trương lớn. Đồng thời mở một Pharmacy ở Long Khánh có tên là “Phúc Nhạc”. Lúc V.C mở chiến dịch đánh An-Lộc, Đồng Xoài … Cứ sáng đi tối về Saigon, tôi không dám ngủ lại Xuân Lộc nữa.

Khi đánh nhau ở Xuân Lộc thì tôi đang kiếm đường đi Thái Lan. Đi quanh quẫn vào Tân Sơn Nhất gặp vài người quen làm ở DAO hỏi thăm mới biết DAO đang tổ chức cho nhân viên đi Mỹ. Tôi vội vàng lái xe về nhà lấy giấy tờ chứng nhận mình đã từng làm việc cho Không Quân Mỹ, vào lại DAO trình giấy và xin đi Mỹ. Ông Phụ tá DAO liền bảo cô thư ký đánh máy ngay một Manifest cho gia đình tôi và căn dặn phải vào Văn Phòng DAO ngủ để chờ tới phiên là đi. Ngay tối hôm đó tôi và vợ con vào Văn phòng DAO không kịp mang gì, chỉ mang ít vàng bạc và quần áo. Rạng sáng hôm sau đã có xe của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ chở ra tận chỗ máy bay đỗ.

Chúng tôi đi bằng máy bay quân sự Caribou đến Clark Air Force Base ở Philippine. Ở đây được 5 ngày nghe Radio mới biết tướng Dương Văn Minh đầu hàng.

Từ Philippine bay sang Guam ở Andrew Air Force Base để chờ đi Mỹ. Bảy ngày sau, chúng tôi bay đến Trại Tị nạn Eglin Air Force Base (Florida) chuyến bay đầu tiên có BS Phan Quang Đán đi cùng chuyến.



Ở trại tị nạn buồn quá vì mất tất cả … nên tình nguyện vào làm Chủ bút báo của Trại, tờ báo có tên là New Land (Đất Mới). Cũng vì buồn nên tập làm thơ con Cóc bằng tiếng Anh; nhưng cũng đã quên không nói tiếng Anh bằng tay chân như ngài cựu thẩm phán Nguyễn Cần phán về Lê Trọng Văn sau này trên tờ Saigon Nhỏ, trong mục “Viết Mà Chơi”.

Vì mới đặt chân lên xứ Cờ-Hoa nên LTV bỏ được hai chữ Yes-No, nhưng vừa mới tập làm thơ. Nếu có gì sai, xin ngài cựu thẩm phán đừng cười !



MY COUNTRY & ME

I cried

Since I found the sunlight

The first time I wept for my country

Is when I wept for my homeland filled with smoke

And the fires of yesterday

And the miseries of today

And because I am born in the wrong generation

I am born admit cries of exiles

How to end these somber and sad days

And sufferings which succed each other

What will happen to my homeland and me

By Hoai-Viet.



Tôi còn nhớ mang máng Tú gàn viết một câu “doạ tôi” (tôi không nhớ hết)



“Bây giờ Lê Trọng Văn đã lộ diện. Báo Nhân Dân của CS Hà-Nội có đăng một “Thư Ngỏ” của Lê Trọng Văn bênh vực về tự do nhân quyền tại Việt Nam. “Nếu cứ như thế này, phải nhờ Cộng Đồng người Hmong nói chuyện với Lê Trọng Văn mới được”.



Một: Tú Gàn xưng mình là người Việt Nam mà không biết dân Việt có nhiều tình cảm. Ngược lại, Tú Gàn lại hay dùng luận cứ “bướng gàn” để nói chuyện. Hai: Tú Gàn từng học “luật” nhưng không thích luật, lại muốn dùng “luật rừng” thủ đoạn của dân “đứng bến” ra xài. Phải chăng Tú Gàn muốn nhờ Cộng Đồng Hmong thực hiện lối vũ phu đối với Lê Trọng Văn? Khi ở Denver, Colorado họ đã làm đơn thưa với hy vọng làm cho Lê Trọng Văn mất việc nhưng mộng không thành; đồng thời họ cũng đã gửi thư tới FBI tố cáo Lê Trọng Văn là gián điệp với hy vọng FBI sẽ bắt Lê Trọng Văn … Ý nghĩ và mục đích của họ y chang Tú Gàn; cứ tưởng tố cáo ai là FBI sẽ bắt người đó ! Nghĩ như vậy là lầm to ông Tú Gàn ơi! Không biết Tú Gàn học luật để làm gì? Vì đây là Hoa Kỳ chứ đâu phải VNCH dưói quyền Ngô Đình Diệm hay Nguyễn Văn Thiệu hoặc ở xứ Lào dưới quyền tướng Phoumi Nosavan nên Tú Gàn những tưởng cơ quan an ninh muốn bắt ai thì bắt, muốn giam ai thì giam; không cần bằng chứng. Trái lại, Hoa Kỳ là một nước văn minh tiến bộ nhất thế giới, lại là một nước Dân chủ Pháp trị nên không thể là bậy được ?

Không phải Lê Trọng Văn sợ một cái gì hay sợ một ai đó nên phải từ Denver (Colorado) chạy về San Diego (California) trốn như Tú Gàn viết. Sở dĩ chọn San Diego vì Lê Trọng Văn về hưu, không còn làm việc nữa; thấy San Diego có khí hậu tốt; mùa Đông không mấy lạnh, mùa Hè không nóng bức nên ở đây hợp với người Á châu và cũng hợp với người già !



Kết:



Nói tóm lại, Tú Gàn là một tín đồ Thiên Chúa giáo cuồng tín, mù quáng, bất lương và không thức thời, vả lại có tính ngoan cố, tự cao, tự đại dựa vào tình hình hổn quan, hổn quân của Cộng Đồng Người Việt hải ngoại. Tú Gàn cố tình làm như không biết thế nào là tự do ngôn luận, tự do- báo chí của Hoa Kỳ, cộng thêm đầu óc gian manh, tráo trở nên đã viết những bài viết có tính cách bóp méo lịch sử mong chạy tội cho nhà Ngô và cho Giáo hội La-Mã và muốn bêu rếu vô tội vạ những ai mà Tú Gàn không ưa …?



Lúc này Tú Gàn mới có một trang nhà với cái tên “Một Góc Trời”. Đọc nó hình như thiếu một cái gì đó? Lê Trọng Văn đề nghị cùng Tú Gàn nên thêm hai chữ ở đằng sau nữa cho có vần, có điệu và hợp đúng với hoàn cảnh của Tú Gàn hiện nay .



Sau khi bị cho nghỉ việc ở Saigon Nhỏ, Tú Gàn chân ướt, chân ráo chạy sang báo Viêt Herald; ở đây không được một tháng lại khăn gói quả mướp tếch sang tuần báo Viet Weekly, và ở đây cũng chỉ “thọ” được hai tuần là đứt gánh. Đó là cái nhân quả mà Tú Gàn phải gánh chịu vì con người tráo trở và không có đạo đức của Tú Gàn gây nên.



Người làm báo quan trọng nhất cần phải có lương tâm và lương tri, không phải làm báo nói láo ăn tiền và cũng không phải nhân có tờ báo trong tay viết để xuyên tạc lịch sử hay trả thù cá nhân như Tú Gàn đã làm.


Nếu Tú Gàn không sửa đổi lại tâm tính thì đương nhiên những ngày còn lại của tuổi già, Tú Gàn chỉ còn làm tri kỷ với “MỘT GÓC TRỜI CÔ ĐƠN” !







San Diego, ngày 27 tháng 05 năm 2011.



LÊ TRỌNG VĂN
Hình đại diện của thành viên
kimau
 
Bài viết: 2017
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 6 15, 2009 7:18 am

Quay về Tin Tức - Thời Sự


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến và 2 khách